OngMuoi.comOng Muỗi
Các loài ong không ngòi ở Việt Nam

Các chi ong không ngòi ở Việt Nam: Tetragonula, Lepidotrigona và những chi ít gặp

Tổng quan các chi ong không ngòi được ghi nhận ở Việt Nam: chi nào phổ biến, chi nào ít gặp, nét định loại chính và mức chắc chắn của từng ghi nhận.

Close macro side view of several small stingless bees of different sizes resting on a weathered tree bark in a forest of Dong Nai, shallow depth of field, warm amber light

Ong không ngòi ở Việt Nam được ghi nhận thuộc nhiều chi, trong đó phổ biến và được nghiên cứu nhiều nhất là Tetragonula và Lepidotrigona. Ngoài hai chi này, tài liệu còn ghi nhận Lisotrigona gồm những loài rất nhỏ, Lophotrigona, và một số chi cỡ lớn như Tetrigona, Homotrigona, Heterotrigona mà ghi nhận ở Việt Nam ít hơn và có điểm cần kiểm lại.

Hiểu ong không ngòi theo chi trước rồi mới tới loài là cách đi hợp lý, vì định loại tới chi tương đối ổn định, còn định loại tới loài trong nhiều trường hợp vẫn đang được xem lại. Bài này là bản đồ tổng quan: mỗi chi là nhóm như thế nào, phân biệt dựa vào đâu, và mức chắc chắn của các ghi nhận ở Việt Nam ra sao.

Chi là gì và vì sao nên đọc ong không ngòi theo chi

Trong phân loại sinh vật, chi là bậc nằm ngay trên loài: một chi gồm một hoặc nhiều loài có chung tổ tiên gần và chung những đặc điểm hình thái chính. Tên khoa học của loài luôn gồm tên chi viết hoa đứng trước và tên loài viết thường đứng sau, ví dụ Tetragonula laeviceps. Khi chưa chắc loài, nhà nghiên cứu ghi tên chi kèm "sp.", nghĩa là một loài nào đó trong chi này.

Với ong không ngòi châu Á, định loại tới chi dựa vào một tổ hợp đặc điểm khá rõ: kích cỡ thân, màu và lông ở phần ngực, hình dạng chân sau, cấu trúc gân cánh. Người đã quen mắt có thể xếp một con ong thợ vào đúng chi dưới kính lúp trong vài phút. Định loại tới loài thì khác hẳn, nhất là trong Tetragonula, có thể mất nhiều giờ đo đạc và vẫn chưa chắc.

Vì thế, trong các nghiên cứu thụ phấn, khảo sát đa dạng hay báo cáo của người nuôi, thông tin tới mức chi đã là có giá trị, miễn là được ghi trung thực. Một bảng ghi "Tetragonula sp. 1, Tetragonula sp. 2" kèm mẫu lưu giữ đáng tin hơn nhiều so với một bảng điền đủ tên loài nhưng không ai kiểm được.

Bảng tổng quan các chi được nhắc tới ở Việt Nam

Bảng dưới tóm lược những chi ong không ngòi thường được nêu trong tài liệu về Việt Nam và vùng lân cận. Kích cỡ là so sánh tương đối giữa các chi với nhau, không phải số đo chính xác:

ChiKích cỡ tương đốiNét thường dùng để nhận raGhi nhận ở Việt Nam
TetragonulaNhỏThân đen hoặc nâu đen, ít hoa văn, cánh thường dài vượt đầu bụngRộng khắp, được nghiên cứu nhiều nhất
LepidotrigonaNhỏ đến vừaLông dạng vảy ở phần ngực, nhiều loài có mảng vàng nâu ở bụng hoặc chânNhiều vùng, hay gắn với rừng và vườn cây lâu năm
LisotrigonaRất nhỏThân nhẵn bóng, ít lông, cỡ chỉ nhỉnh hơn con muỗi nhỏCó ghi nhận, ít được nghiên cứu
LophotrigonaVừaLông ở mặt và ngực có nét riêng so với các chi lân cậnCó ghi nhận, cần thêm dữ liệu
TetrigonaVừa đến lớnThân chắc, nhiều loài có cánh hai tông màuGhi nhận ít, nên kiểm lại
Homotrigona, HeterotrigonaLớnThân to khoẻ, phổ biến ở Đông Nam Á hải đảo và bán đảo Mã LaiGhi nhận ở Việt Nam chưa chắc, cần đối chiếu mẫu

Cột cuối cùng là phần dễ bị hiểu sai nhất. "Có ghi nhận" không đồng nghĩa với "phổ biến"; nhiều chi chỉ có vài mẫu từ một hai địa điểm. Và một số chi hay xuất hiện trong bài viết tiếng Việt thực ra được dịch lại từ tài liệu Malaysia hoặc Indonesia, nơi chúng rất phổ biến, rồi bị hiểu nhầm là cũng phổ biến ở Việt Nam.

Tetragonula: nhóm đông nhất và khó nhất

Tetragonula là chi có nhiều loài nhất trong ong không ngòi châu Á – Úc, phân bố từ Ấn Độ, Sri Lanka qua Đông Nam Á tới New Guinea và Úc. Ở Việt Nam, phần lớn con ong dú nhỏ màu đen trong vườn nhà, trong tường, trong ống nước cũ đều thuộc chi này. Đây cũng là chi được nuôi nhiều nhất.

Cái khó của Tetragonula là các loài rất giống nhau. Ong thợ của nhiều loài đều nhỏ, đen, lông thưa, chỉ khác ở những chi tiết như độ dài lông ở mặt sau chân sau, màu lông ở mép ngực, tỷ lệ các phần của đầu. Một số chuyên gia cho rằng còn nhiều loài trong chi này chưa được mô tả, trong khi một số tên cũ có thể đang chỉ chung cho vài loài khác nhau.

Do đó, trong tài liệu khoa học về Việt Nam, bạn sẽ thường thấy Tetragonula đi kèm cách ghi thận trọng như "nhóm laeviceps" hay "cf.", nghĩa là gần giống với loài đó nhưng chưa chắc. Cách ghi này không phải là thiếu sót mà là sự trung thực cần thiết. Chi tiết về chi này được bàn riêng trong bài về Tetragonula của danh mục.

Lepidotrigona và Lophotrigona: hai chi cỡ vừa có nét riêng dễ thấy hơn

Lepidotrigona nhận ra nhờ lông ở ngực. Tên chi gợi tới vảy, vì lepido trong tiếng Hy Lạp nghĩa là vảy, ứng với kiểu lông dẹt như vảy ở phần ngực được dùng trong khoá định loại. Nhiều loài trong chi có màu hai tông, phần bụng hoặc chân có mảng vàng, nâu sáng, nhìn khác hẳn Tetragonula đen tuyền. Ở Việt Nam, Lepidotrigona hay được nhắc ở vùng trung du, miền núi và nơi còn rừng.

Lepidotrigona cũng có loài khó tách. Dù nhìn khác Tetragonula rõ hơn, việc phân biệt các loài trong Lepidotrigona với nhau vẫn cần đối chiếu kỹ màu lông, màu bụng, chi tiết chân. Một số loài thay đổi màu sắc theo vùng, khiến người không chuyên dễ tưởng là hai loài khác nhau.

Lophotrigona là chi có ít loài. Chi này thường được nhắc với một loài chính phân bố ở Đông Nam Á lục địa và bán đảo Mã Lai. Ong thợ cỡ vừa, có nét lông ở đầu và ngực khác các chi lân cận. Ghi nhận ở Việt Nam có xuất hiện trong một số tài liệu nhưng số mẫu chưa nhiều.

Kiến trúc tổ là đặc điểm phụ, không phải chính. Các chi khác nhau về hình ống cửa tổ, cách xếp ô nhộng, độ cứng của keo. Nhà phân loại dùng những đặc điểm này để hỗ trợ, nhưng quyết định chi và loài vẫn dựa trên con ong, vì cùng một loài có thể làm cửa tổ khác nhau tuỳ chỗ làm tổ và tuổi đàn.

Những chi tí hon và những chi cỡ lớn

Ở hai đầu thang kích cỡ là những chi ít gặp hơn trong đời sống hằng ngày, nhưng quan trọng để hiểu đầy đủ đa dạng của ong không ngòi:

  • Lisotrigona là nhóm tí hon, thân bóng, sống ở hốc đá, khe tường. Đây là nhóm gắn với tên gọi "ong muỗi" và có danh mục riêng trên trang này, nên ở đây chỉ nhắc để đủ bản đồ.
  • Một số chi tí hon khác như Pariotrigona được ghi nhận ở Thái Lan và bán đảo Mã Lai; việc chúng có ở Việt Nam hay không còn là câu hỏi mở vì loài nhỏ rất dễ bị bỏ sót khi thu mẫu.
  • Tetrigona gồm các loài cỡ vừa đến lớn, nhiều loài có cánh hai tông màu. Có ghi nhận trong vùng Đông Dương, cần thêm mẫu để xác định phân bố ở Việt Nam.
  • Homotrigona và Heterotrigona là những chi ong không ngòi to, được nuôi nhiều ở Malaysia và Indonesia dưới tên kelulut. Thông tin về chúng trong tiếng Việt nhiều nhưng chủ yếu dịch từ tài liệu nước ngoài; ghi nhận dựa trên mẫu ở Việt Nam còn ít.
  • Geniotrigona cũng là chi cỡ lớn phổ biến ở bán đảo Mã Lai, thường được nhắc trong sách nuôi ong không ngòi nước ngoài. Đừng mặc định nó có mặt ở Việt Nam chỉ vì xuất hiện trong tài liệu tiếng Việt.

Điểm chung của nhóm cỡ lớn là chúng thường cần hốc cây to trong rừng già để làm tổ. Điều này giải thích vì sao chúng phổ biến ở những vùng còn nhiều rừng nhiệt đới ẩm và ít thấy ở nơi rừng đã bị chia cắt.

Vì sao tài liệu cũ ghi gần hết là Trigona

Nếu bạn đọc sách, luận văn trước những năm 2000, nhiều khả năng sẽ gặp gần như mọi loài ong không ngòi châu Á được ghi dưới tên chi Trigona, kèm một tên phân chi trong ngoặc. Đó là cách xếp của các hệ thống phân loại cũ, coi Tetragonula, Lepidotrigona và các nhóm khác là phân chi của một chi Trigona rất rộng.

Các nghiên cứu phát sinh chủng loài về sau, dựa trên cả hình thái và ADN, cho thấy Trigona theo nghĩa hẹp chỉ gồm các loài ở châu Mỹ, còn các nhóm ở châu Á – Úc là những dòng riêng. Phần lớn tài liệu hiện nay vì vậy nâng các phân chi cũ thành chi độc lập. Khi đọc tài liệu cũ, bạn chỉ cần lấy tên trong ngoặc làm tên chi theo cách gọi hiện hành, rồi đối chiếu lại tên loài.

Quá trình này chưa hoàn toàn khép lại. Vẫn có tranh luận về ranh giới một số chi, về việc gộp hay tách vài nhóm nhỏ. Nhưng với người đọc phổ thông, chỉ cần nắm rằng các tên chi trong bài này là cách gọi đang được dùng rộng rãi, còn tên Trigona cho ong châu Á là cách gọi đã cũ.

Xếp một con ong vào đúng chi: trình tự người định loại thường đi

Không cần là chuyên gia, sinh viên sinh học hay người nuôi ong có kính lúp soi nổi vẫn có thể thử xếp một con ong thợ vào chi theo trình tự dưới đây, miễn là nhớ kết quả chỉ là sơ bộ:

  1. Xác nhận đó là ong không ngòi: chân sau có giỏ phấn dẹt và rộng, gân cánh trước ở phần ngoài mờ hoặc tiêu biến, không có kim chích nhô ra ở đầu bụng.
  2. Ước kích cỡ bằng thước đo trong thị kính hoặc giấy kẻ ô dưới mẫu, chia sơ bộ thành nhóm rất nhỏ, nhỏ, vừa, lớn.
  3. Quan sát màu: đen tuyền, hai tông đen – vàng nâu, hay có phần ngực, phần bụng sáng màu.
  4. Soi lông ở phần ngực, nhất là mép sau và hai bên: lông mảnh bình thường hay lông dẹt như vảy.
  5. Soi chân sau: hình dạng đốt ống chân, độ dài và mật độ lông ở mép.
  6. Đối chiếu với khoá định loại của vùng, ghi lại từng bước đã chọn để người kiểm sau đi lại được.

Trình tự này giúp loại trừ nhanh những nhầm lẫn thô, như xếp một con Lepidotrigona vào Tetragonula chỉ vì cả hai đều nhỏ. Nhưng với các chi hiếm, và với mọi kết luận tới mức loài, bạn nên gửi mẫu cho phòng thí nghiệm côn trùng có bộ sưu tập đối chứng.

Câu hỏi thường gặp

Ong dú nhà em nuôi thuộc chi nào?

Phần lớn đàn ong dú nuôi ở Việt Nam thuộc chi Tetragonula hoặc Lepidotrigona. Muốn biết chắc cần gửi vài con ong thợ cho người có chuyên môn xem dưới kính lúp. Tên chi xác định được khá nhanh, còn tên loài có thể phải chờ đối chiếu kỹ hoặc phân tích ADN.

Chi có to hơn họ không?

Không, chi là bậc nhỏ hơn. Thứ tự từ lớn xuống nhỏ là họ, phân họ, tộc, chi, loài. Ong không ngòi thuộc họ Apidae, cùng họ với ong mật, ong nghệ; trong họ đó chúng làm thành tộc Meliponini, và tộc này lại chia thành nhiều chi.

Heterotrigona itama có ở Việt Nam không?

Đây là loài được nuôi rất phổ biến ở Malaysia và Indonesia. Thông tin về nó có nhiều trên mạng tiếng Việt, nhưng ghi nhận dựa trên mẫu vật thu ở Việt Nam còn ít và chưa thống nhất. Nếu ai đó bán đàn ong dưới tên này, bạn nên hỏi rõ nguồn gốc đàn.

Có khoá định loại ong không ngòi bằng tiếng Việt không?

Hiện các khoá định loại đầy đủ chủ yếu bằng tiếng Anh, viết cho cả vùng Đông Nam Á hoặc cho từng nước như Thái Lan, Malaysia. Một số luận văn, giáo trình trong nước có phần mô tả bằng tiếng Việt, nhưng thường chỉ cho vài chi hoặc vài loài trong phạm vi nghiên cứu.

Ong không ngòi châu Mỹ có chi nào giống ở Việt Nam không?

Không có chi nào chung giữa hai vùng theo cách phân loại hiện hành. Ong không ngòi châu Mỹ như Melipona, Trigona nghĩa hẹp, Scaptotrigona là những dòng tiến hoá riêng. Sự giống nhau bề ngoài giữa vài loài hai bên là do sống trong môi trường tương tự.

Vì sao cùng một chi mà bài này bài kia ghi tên khác nhau?

Thường do một nguồn dùng cách xếp cũ, ghi Trigona kèm phân chi, còn nguồn kia dùng cách xếp mới với tên chi độc lập. Cũng có khi do lỗi chính tả hoặc dịch. Khi so sánh, hãy đưa tất cả về tên chi hiện hành trước.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.