Để định loại ong không ngòi, người ta xem tổ hợp nhiều đặc điểm hình thái: gân cánh và móc cánh, hình dạng đốt ống chân sau và các vùng lông trên đó, cấu tạo đầu như hàm trên và khoảng má, kiểu lông ở ngực, cùng màu và kích cỡ. Những đặc điểm cấu trúc như hình dạng chân, gân cánh thường đáng tin hơn màu sắc, vì màu thay đổi theo tuổi ong, theo vùng và theo cách bảo quản mẫu.
Bài này giải thích từng nhóm đặc điểm, nó nói lên điều gì, cạm bẫy khi dùng nó, và cách đọc một khoá định loại. Đây là kiến thức nền cho sinh viên, giáo viên sinh học, kỹ sư nông nghiệp muốn hiểu vì sao một kết quả định loại có thể tin được hay chưa, chứ không phải mẹo nhận tổ ong cho người nuôi.
Con ong được đọc theo ba phần cơ thể
Như mọi côn trùng, thân ong chia ba phần: đầu, ngực và bụng. Ở ong và các côn trùng cùng bộ Cánh màng, đốt bụng đầu tiên nhập vào phần ngực, tạo thành một khối mà nhà phân loại gọi riêng, còn phần bụng nhìn thấy phía sau eo thực ra bắt đầu từ đốt thứ hai. Chi tiết này nghe kỹ thuật, nhưng cần biết để đọc đúng các mô tả trong khoá định loại.
Đầu mang mắt kép, ba mắt đơn trên đỉnh, râu, và bộ phận miệng gồm hàm trên dùng để nhào keo, cắn nhựa, cùng vòi để hút mật. Phần ngực mang hai đôi cánh và ba đôi chân; đây là nơi có nhiều đặc điểm định loại nhất ở ong không ngòi. Phần bụng chứa tuyến sáp ở mặt lưng của ong thợ, cơ quan sinh sản, và ở ong không ngòi thì kim chích đã tiêu giảm, không dùng để đốt.
Khi định loại, người ta thường dùng ong thợ vì chiếm số đông và dễ thu. Ong chúa có bụng phình to khi đẻ trứng, hình dạng khác hẳn, ít dùng. Ong đực có thêm những đặc điểm phân biệt riêng ở râu và cơ quan sinh dục, đặc biệt hữu ích với các nhóm loài gần nhau. Một mô tả loài đầy đủ thường có cả ong thợ, ong đực, và nếu được thì cả ong chúa.
Cánh: gân tiêu giảm, móc cánh và tỷ lệ
Gân cánh tiêu giảm là dấu hiệu của cả tộc. Ở ong không ngòi, các gân ở phần ngoài cánh trước mờ dần hoặc biến mất, khác với ong mật Apis có hệ gân rõ tới gần mép cánh. Đặc điểm này giúp xác nhận một con ong nhỏ là ong không ngòi chứ không phải ong mồ hôi hay ong đơn độc khác.
Móc cánh. Mép trước cánh sau có một hàng móc nhỏ để gài vào cánh trước khi bay. Số móc này được đếm dưới kính và ghi trong mô tả, vì nó khác giữa các nhóm. Đếm cần mẫu còn nguyên cánh, cánh được dàn ra hoặc tách rời đặt trên lam kính.
Chiều dài cánh so với thân. Tỷ lệ cánh trước so với tổng chiều dài thân, hay cánh có vượt đầu bụng hay không khi khép lại, là đặc điểm hay dùng cho các chi nhỏ. Tuy nhiên chiều dài thân đo trên mẫu khô dễ sai lệch vì bụng co lại, nên nhiều người ưu tiên đo chiều dài cánh hoặc chiều rộng đầu.
Màu và độ trong của cánh. Một số loài có cánh ám màu, có vùng sẫm hoặc vùng sáng ở gốc hay ở đầu cánh. Đây là đặc điểm hữu ích ở các chi cỡ vừa đến lớn, ít hữu ích ở nhóm ong dú nhỏ có cánh trong gần như giống nhau.
Hình dạng tổng thể của cánh. Hình học các điểm giao gân, khi được chụp và phân tích thống kê, có thể tách những loài mà mắt thường không phân biệt được. Đây là hướng đi đang được dùng nhiều trong nghiên cứu ong, nhất là khi kết hợp với dữ liệu ADN để kiểm chéo.
Chân sau: kho đặc điểm của ong không ngòi
Chân sau của ong thợ là cấu trúc làm việc, mang phấn và nhựa cây về tổ, nên chịu chọn lọc mạnh và khác nhau rõ giữa các nhóm. Những điểm người định loại thường xem gồm:
- Hình dạng đốt ống chân sau: hình tam giác, hình thìa, hay thuôn dài; mép ngoài thẳng hay cong.
- Giỏ phấn: vùng mặt ngoài đốt ống chân hơi lõm, nhẵn, viền lông dài cong vào để giữ khối phấn hoặc nhựa.
- Chùm lông ở góc ngoài đầu đốt ống chân, một đặc điểm riêng của ong không ngòi, có độ phát triển khác nhau giữa các nhóm.
- Vùng lông ngắn, dày ở mặt trong đốt ống chân, dùng để chải phấn; độ rộng và vị trí vùng này là đặc điểm định loại.
- Đốt bàn chân thứ nhất của chân sau: tỷ lệ dài rộng và hình dạng góc gốc.
- Màu của các đốt chân, có loài chân sẫm toàn bộ, có loài chân có đoạn vàng hoặc nâu sáng.
Để thấy rõ các chi tiết này, chân sau thường được xoay nghiêng dưới kính lúp soi nổi với ánh sáng chiếu xiên, hoặc tách ra dán lên giá đỡ. Với mẫu quý, người ta tránh tách chân, chỉ xoay mẫu và chụp ảnh nhiều góc.
Nhiều khoá định loại cho ong không ngòi châu Á bắt đầu ngay từ chân sau, vì chỉ riêng hình dạng đốt ống chân và vùng lông mặt trong đã đủ tách được nhiều chi với nhau.
Đầu: hàm trên, khoảng má và mắt đơn
Đầu ong không ngòi nhỏ nhưng chứa những số đo ít bị ảnh hưởng bởi cách bảo quản, nên được dùng nhiều để so loài:
- Hàm trên: số răng ở mép, hình dạng răng, màu của phần đầu hàm. Hàm mòn dần theo tuổi ong vì phải cắn nhựa, nên nên xem trên ong thợ trẻ.
- Khoảng má: khoảng cách giữa mép dưới mắt kép và gốc hàm trên. Ở ong không ngòi khoảng này thường rất hẹp, và tỷ lệ của nó so với chiều rộng gốc hàm là một số đo hay dùng.
- Mắt đơn: khoảng cách giữa hai mắt đơn sau, khoảng cách từ mắt đơn tới mắt kép và tới mép sau đầu.
- Râu: màu của đốt gốc và các đốt roi râu, tỷ lệ chiều dài các đốt.
- Lông mặt: có hay không lông ánh bạc, lông dựng hay nằm, màu lông vùng môi trên và trán.
- Chiều rộng đầu: số đo tổng thể dùng để so kích cỡ ổn định hơn chiều dài thân.
Những đặc điểm đầu thường được trình bày dưới dạng tỷ số, ví dụ khoảng má chia cho chiều rộng gốc hàm, để không phụ thuộc vào cỡ của từng cá thể. Cách trình bày này giúp so được mẫu to và mẫu nhỏ trong cùng một loài một cách công bằng.
Lông và màu: hữu ích nhưng dễ đánh lừa
Lông trên thân ong rất đa dạng: lông đơn mảnh, lông phân nhánh như lông vũ để bám phấn, lông dẹt như vảy. Kiểu lông, nhất là ở phần lưng ngực và mép sau ngực, là đặc điểm tốt để tách chi, ví dụ lông dạng vảy của Lepidotrigona. Mật độ lông và vị trí các dải lông cũng được ghi trong mô tả loài.
Màu sắc thì phức tạp hơn. Ong thợ mới nở thường nhạt màu, vài ngày sau mới sẫm hẳn. Ong già bị mòn lông, bóng hơn và trông sẫm hơn. Giữa các vùng, cùng một loài có thể có dạng sẫm và dạng sáng. Thêm vào đó, cách bảo quản làm màu đổi: mẫu ngâm cồn lâu ngày có thể nhạt đi, lông bết lại; mẫu khô ghim kim giữ hình lông tốt hơn nhưng bụng co và đổi màu nhẹ.
Vì vậy, trong khoá định loại tốt, màu thường được dùng kèm với đặc điểm cấu trúc, ít khi đứng một mình ở bước quyết định. Khi một mô tả chỉ dựa vào màu, ví dụ "bụng vàng", bạn nên hiểu đó là gợi ý cần kiểm thêm. Đây cũng là lý do ảnh chụp ngoài thực địa, nơi màu là thứ nổi bật nhất, thường không đủ để định loại tới loài.
Đo đạc mẫu ong không ngòi: đặc điểm, dụng cụ và lưu ý
Phần lớn mô tả loài hiện nay đi kèm số đo. Bảng dưới liệt kê những số đo hay gặp và lưu ý thực hành khi đo:
| Số đo | Dụng cụ thường dùng | Lưu ý |
|---|---|---|
| Chiều dài thân | Kính lúp soi nổi có thị kính vạch chia | Dễ sai vì bụng co, đầu gập; chỉ dùng tham khảo |
| Chiều dài cánh trước | Như trên, hoặc ảnh chụp có thang đo | Ổn định hơn chiều dài thân; cần cánh còn nguyên |
| Chiều rộng đầu | Thị kính vạch chia, nhìn chính diện | Một trong những số đo ổn định nhất |
| Khoảng má, gốc hàm | Độ phóng đại cao, nhìn nghiêng | Dùng dưới dạng tỷ số |
| Chiều dài, rộng đốt ống chân sau | Chân tách rời hoặc xoay mẫu | Đo cùng một mặt cho mọi mẫu |
| Số móc cánh | Lam kính, độ phóng đại cao | Đếm trên cả hai cánh sau để kiểm |
Một nguyên tắc chung là đo trên nhiều cá thể, thường ít nhất vài con mỗi đàn và nhiều đàn mỗi loài, rồi báo cáo khoảng giá trị chứ không phải một con số. Một khác biệt chỉ thấy trên một hai mẫu chưa đủ để kết luận hai loài khác nhau.
Cách dùng một khoá định loại lưỡng phân
Khoá định loại lưỡng phân là chuỗi các cặp lựa chọn: mỗi bước đưa ra hai mô tả loại trừ nhau, bạn chọn mô tả đúng với mẫu rồi đi tới bước được chỉ. Dùng khoá cho ong không ngòi nên theo trình tự sau:
- Chọn khoá đúng vùng địa lý. Khoá viết cho ong châu Mỹ hoặc châu Phi không dùng được cho ong Việt Nam.
- Chuẩn bị mẫu sạch, khô, chân và cánh dàn ra được; có kính lúp soi nổi và nguồn sáng chỉnh hướng.
- Đọc kỹ phần thuật ngữ và hình minh hoạ của khoá trước khi bắt đầu, vì mỗi tác giả có thể gọi một cấu trúc bằng tên khác nhau.
- Ở mỗi cặp lựa chọn, xem đủ mọi đặc điểm được nêu, không chọn chỉ vì một đặc điểm khớp.
- Ghi lại đường đi qua từng bước. Nếu tới cuối mà mô tả loài không khớp, quay lại bước gần nhất còn phân vân.
- So kết quả với mô tả đầy đủ của loài và nếu được, với mẫu đối chứng đã định danh trong bộ sưu tập.
- Khi không chắc, dừng ở mức chi và ghi "sp.", thay vì ép mẫu vào một tên loài.
Khoá định loại là công cụ hỗ trợ, không phải máy cho ra đáp án. Với những nhóm như Tetragonula, nhiều tác giả khoá cũng nói rõ khoá chỉ tách được một số loài, phần còn lại cần thêm dữ liệu di truyền.
Câu hỏi thường gặp
Có cần kính hiển vi để định loại ong không ngòi không?
Thường dùng kính lúp soi nổi, loại cho ảnh nổi ba chiều với độ phóng đại vài chục lần, chứ không phải kính hiển vi quang học dùng lam mỏng. Một số chi tiết như móc cánh hay cơ quan sinh dục đực mới cần độ phóng đại cao hơn hoặc làm tiêu bản.
Vì sao không định loại bằng ong chúa?
Ong chúa ít khi thu được vì nằm sâu trong tổ, và lấy ong chúa là làm hỏng đàn. Ngoài ra bụng ong chúa phình to khi đẻ, hình dạng cơ thể khác xa ong thợ, nên phần lớn khoá định loại xây dựng trên ong thợ và ong đực.
Mẫu ong ngâm cồn có định loại được không?
Được, và nhiều phòng thí nghiệm ưu tiên ngâm cồn vì giữ được ADN. Nhược điểm là lông bết lại, màu có thể nhạt dần. Trước khi soi, người ta thường làm khô mẫu cẩn thận để lông phồng trở lại, hoặc giữ một phần mẫu khô ghim kim song song.
Đặc điểm nào đáng tin nhất?
Các đặc điểm cấu trúc như hình dạng đốt ống chân sau, vùng lông mặt trong chân, tỷ lệ các phần của đầu, gân và móc cánh thường đáng tin hơn màu và kích thước thân. Với ong đực, cơ quan sinh dục là đặc điểm mạnh nhất ở nhiều nhóm.
Học sinh phổ thông có thể tập định loại ong không ngòi không?
Có thể tập tới mức nhận ra ong không ngòi và tách vài chi phổ biến, với kính lúp soi nổi của phòng thí nghiệm trường và hình minh hoạ tốt. Đây là bài thực hành hay về quan sát và ghi chép. Kết luận tới mức loài nên để người có chuyên môn kiểm.
Ứng dụng nhận dạng bằng ảnh có thay được khoá định loại không?
Hiện chưa. Các ứng dụng hoạt động dựa trên ảnh đã được người dùng gán tên, mà với ong không ngòi châu Á lượng ảnh định danh chuẩn còn ít. Kết quả thường chỉ đáng tin tới mức chi, đôi khi nhầm cả chi, nên chỉ dùng như gợi ý ban đầu.