OngMuoi.comOng Muỗi
Nghiên cứu và bảo tồn

Ong không ngòi có bị đe doạ không: những sức ép đã biết và chỗ còn thiếu bằng chứng

Ong không ngòi chịu sức ép từ mất rừng, mất hốc tổ, thuốc và khai thác tổ, nhưng số liệu quần thể còn rất mỏng. Bài tách điều đã rõ khỏi điều còn đoán.

Aerial view of a patchwork landscape in Đồng Nai where a remnant of tall tropical forest meets cashew plantations and cleared red soil, late afternoon light, no people

Câu trả lời ngắn: có những sức ép rõ ràng đang đè lên ong không ngòi hoang dã, nhưng mức độ suy giảm thật sự của từng loài ở Việt Nam hiện gần như chưa đo được. Các tài liệu về ong không ngòi ở vùng nhiệt đới thường nêu bốn nhóm nguy cơ: mất và chia cắt rừng, mất hốc cây làm tổ, thuốc bảo vệ thực vật, và khai thác tổ tự nhiên. Điều thiếu là chuỗi số liệu theo dõi nhiều năm cho biết quần thể đang co lại nhanh tới đâu.

Vì vậy, khi đọc một câu như "ong không ngòi đang tuyệt chủng" hay ngược lại "ong dú còn nhiều lắm", bạn nên hỏi lại: nhận định ấy dựa trên khảo sát lặp lại ở cùng địa điểm, hay chỉ là cảm nhận của người đi rừng? Bài này tách những điều đã có cơ sở khỏi những điều còn là giả thuyết, để bạn đọc tin tức về ong một cách tỉnh táo hơn.

Vì sao chưa ai trả lời chắc được câu hỏi này

Muốn nói một loài đang suy giảm, cần ít nhất hai thứ: biết loài đó là loài nào, và có số đếm ở cùng một nơi qua nhiều thời điểm. Với ong không ngòi ở Việt Nam, cả hai đều còn yếu. Phân loại nhiều nhóm, nhất là chi Tetragonula, vẫn đang được xem lại, nên hai bài khảo sát ở hai thời điểm có thể gọi cùng một con ong bằng hai tên khác nhau. Khi tên còn trôi, số đếm theo tên cũng trôi theo.

Thứ hai, ong không ngòi sống thành đàn lâu năm trong hốc cây, khe đá, gốc rễ. Đơn vị cần đếm là tổ, không phải con ong bay trên hoa. Một vườn có hàng trăm con ong đậu hoa có thể chỉ đến từ hai, ba tổ ở gần. Tìm tổ trong rừng tốn công gấp nhiều lần bắt ong trên hoa, nên các khảo sát mật độ tổ ở Đông Nam Á còn ít và thường chỉ phủ vài ô mẫu nhỏ.

Thứ ba, ong không ngòi chưa phải đối tượng quen thuộc của các danh lục bảo tồn. Phần lớn các đánh giá tình trạng quốc tế tập trung vào thú, chim, lưỡng cư, cây gỗ. Côn trùng nói chung bị xếp vào nhóm "thiếu dữ liệu" nhiều hơn là "an toàn". Thiếu dữ liệu không có nghĩa là không có vấn đề; nó có nghĩa là chưa ai đủ số liệu để xếp hạng.

Mất rừng và rừng bị chia cắt

Mất nơi ở trước tiên. Ong không ngòi hoang dã ở Việt Nam phần lớn làm tổ trong cây gỗ còn sống hoặc đã chết đứng, ở rừng tự nhiên, rừng ven suối, vườn cây lâu năm. Khi một khu rừng chuyển sang rẫy hoặc đất trống, tổ trong cây bị đốn đi cùng thân cây, và nguồn hoa quanh năm của rừng nhiều tầng cũng biến mất.

Chia cắt mới là chuyện khó thấy. Một khu rừng không cần mất hết mới gây hại. Khi rừng bị cắt thành nhiều mảnh nhỏ, đàn ong ở mỗi mảnh bị giới hạn bởi tầm bay ngắn và cách chia đàn sát tổ mẹ. Mảnh nào mất hết tổ thì rất khó có đàn mới tự bay tới lấp chỗ trống, khác với những loài ong bay xa.

Cảnh quan nông nghiệp không phải là sa mạc. Vườn cây ăn trái nhiều tầng, vườn tạp có cây lâu năm, hàng rào xanh vẫn có thể nuôi được ong không ngòi. Các nghiên cứu ở vùng nhiệt đới thường thấy số loài ong giảm dần khi đi xa khỏi rừng, nhưng không về số không. Điều đó cho thấy chất lượng cảnh quan quanh rừng có ý nghĩa ngang với diện tích rừng còn lại.

Đừng quy hết cho một nguyên nhân. Ở thực địa, mất rừng thường đi kèm phun thuốc nhiều hơn, cháy nhiều hơn, khai thác tổ nhiều hơn. Tách riêng tác động của từng thứ là bài toán khó, nên khi một báo cáo đổ hết cho một tác nhân duy nhất, bạn nên đọc kỹ phần phương pháp.

Mất hốc tổ: nút thắt riêng của ong làm tổ trong cây

Khác với ong mật nuôi có thể chuyển sang thùng do người làm, ong không ngòi hoang dã phụ thuộc vào hốc có sẵn. Một hốc phù hợp cần nhiều điều kiện cùng lúc, nên số hốc dùng được trong một khu rừng ít hơn nhiều so với số cây.

  • Hốc phải đủ thể tích để đàn chứa bánh nhộng và các bầu mật, phấn; mỗi chi có ngưỡng ưa thích khác nhau và thông tin chi tiết cho từng loài ở Việt Nam còn ít.
  • Thành hốc phải đủ dày để giữ nhiệt độ tương đối ổn định; cây gỗ lớn, già có lợi thế rõ so với cây non thân mỏng.
  • Cửa vào nhỏ, dễ thu hẹp bằng nhựa và sáp để ong canh giữ; hốc quá trống thì đàn phải bỏ nhiều công bít lại.
  • Cây cần sống lâu, vì một đàn ong không ngòi có thể ở cùng một hốc rất nhiều năm, thay chúa mà không đổi nhà.
  • Khai thác gỗ chọn lọc thường lấy đúng những cây to, già, có hốc, tức là lấy đi đúng nhóm cây ong cần nhất.

Vì thế, một khu rừng trông vẫn xanh, vẫn nhiều hoa, có thể đang thiếu chỗ ở cho ong mà mắt thường không nhận ra. Câu hỏi "thiếu hốc hay thiếu hoa" là một hướng nghiên cứu riêng, được bàn kỹ ở một bài khác trong danh mục này.

Thuốc bảo vệ thực vật và khai thác tổ tự nhiên

Hai sức ép này có tính địa phương rất mạnh. Ở vùng trồng cây ăn trái, cây công nghiệp chuyên canh, đàn ong quanh vườn có thể chịu nhiều đợt phun trong mùa hoa. Ong không ngòi thân nhỏ, kiếm ăn gần tổ, nên một đợt phun trong bán kính vài trăm mét đã chạm đến gần như toàn bộ vùng kiếm ăn của đàn. Cơ chế gây độc của từng nhóm hoạt chất được viết riêng trong danh mục về ong và thuốc bảo vệ thực vật; ở đây chỉ cần nhớ rằng phần lớn số liệu độc tính trên thế giới đo trên ong mật châu Âu, rất ít đo trên ong không ngòi châu Á.

Khai thác tổ tự nhiên gồm hai kiểu khác nhau. Kiểu thứ nhất là lấy mật bằng cách phá tổ, thường giết luôn đàn. Kiểu thứ hai là cưa khúc cây có tổ đem về nuôi hoặc bán. Kiểu thứ hai nghe nhẹ hơn, nhưng nếu làm hàng loạt ở cùng một khu rừng, nó lấy đi chính những đàn đang giữ nguồn gen và đang chia đàn để lấp chỗ trống. Khi thị trường ong dú làm cảnh, nuôi lấy mật lớn lên, nhu cầu đàn giống có thể tạo sức ép lên rừng nếu nguồn đàn không minh bạch.

Ngoài ra còn những tác nhân ít được nhắc: cháy rừng mùa khô, đèn chiếu sáng ban đêm thay đổi hành vi côn trùng, sự du nhập của sinh vật gây hại theo đường vận chuyển đàn ong. Mỗi tác nhân này hiện chủ yếu được nghiên cứu ở nơi khác, cần kiểm lại trong điều kiện Việt Nam.

Điều gì đã rõ, điều gì còn là giả thuyết

Bảng dưới xếp các nhận định hay gặp theo mức bằng chứng, dựa trên cách các tài liệu tổng quan về ong không ngòi vùng nhiệt đới thường trình bày. Đây là cách đọc chung, không phải kết luận cho từng loài cụ thể.

Nhận địnhMức bằng chứngGhi chú khi áp vào Việt Nam
Ong không ngòi cần hốc có sẵn để làm tổRõ, mô tả từ lâuMột số loài làm tổ trong đất, tổ mối, khe đá; không phải loài nào cũng cần cây lớn
Rừng bị chia cắt làm giảm số loài ongKhá mạnh ở nhiều vùng nhiệt đớiSố liệu khảo sát trong nước còn ít, chưa có chuỗi nhiều năm
Thuốc trừ sâu gây chết ong không ngòiRõ ở mức thí nghiệmLiều thực tế ngoài vườn và độ nhạy từng loài bản địa chưa đo đủ
Khai thác tổ tự nhiên làm giảm quần thểHợp lý về cơ chế, ít số đoChưa có khảo sát quy mô buôn bán đàn ong ở Việt Nam
Ong không ngòi đang suy giảm trên diện rộngChưa đủ dữ liệu để kết luậnNên xem là câu hỏi mở, không phải sự thật đã chốt

Cột cuối cùng mới là chỗ quan trọng. Một nhận định đúng ở rừng Amazon hay ở Úc không tự động đúng ở rừng Tây Nguyên. Khi đọc tin, bạn hãy xem nguồn số liệu thuộc vùng nào và loài nào.

Vì sao ong không ngòi dễ tổn thương hơn ong mật

Có ba đặc điểm sinh học làm ong không ngòi khó hồi phục sau biến cố. Đặc điểm thứ nhất là cách sinh sản đàn. Chúa mẹ của ong không ngòi sau khi giao phối thì bụng phình to, không bay được nữa; đàn mới được dựng dần ở một hốc gần đó, nhận vật liệu và thức ăn từ tổ mẹ trong nhiều tuần, rồi một chúa tơ mới bay sang. Kiểu chia đàn này khiến đàn mới gần như luôn ở sát tổ cũ, nên một vùng đã mất sạch tổ khó được tái lập.

Đặc điểm thứ hai là tầm bay ngắn của nhiều loài thân nhỏ, thường được tài liệu ghi ở mức vài trăm mét. Đàn không thể "bỏ chạy" khỏi một vùng bị phun thuốc hay mất hoa như những loài ong lớn bay xa. Đặc điểm thứ ba là số đàn trên một đơn vị diện tích thường thấp, nên mỗi đàn bị mất chiếm tỉ lệ đáng kể trong quần thể địa phương.

Bù lại, một đàn ong không ngòi ổn định có thể sống rất lâu và tích trữ thức ăn, nên chịu được những đợt thiếu hoa ngắn. Điểm yếu nằm ở chỗ một khi đàn chết, vùng đó lấp lại rất chậm. Đây là lý do các nhà sinh thái hay nói bảo tồn ong không ngòi chủ yếu là giữ những đàn đang có và giữ cây lớn, hơn là thả thêm đàn mới.

Bạn có thể góp phần ở mức nào

Không cần là nhà khoa học mới làm được việc có ích. Những việc dưới đây đều nằm trong tầm tay người làm vườn, giáo viên, sinh viên, người đi rừng.

  • Giữ lại cây lớn, cây già có hốc trong vườn và ven rẫy khi không gây nguy hiểm; thân cây chết đứng xa lối đi cũng là chỗ ở.
  • Không mua đàn ong không rõ nguồn gốc, nhất là đàn còn nguyên khúc cây vừa cưa từ rừng.
  • Ghi nhận tổ ong không ngòi bạn gặp: ngày, nơi, loại hốc, ảnh cửa tổ, và chia sẻ cho người làm nghiên cứu hoặc nền tảng ghi nhận đa dạng sinh học.
  • Khi trong nhà có người phun thuốc vườn, nhắc đọc phần cảnh báo về ong trên nhãn và tránh phun lúc cây đang nở hoa rộ.
  • Với giáo viên, sinh viên: một đề tài nhỏ đếm tổ ong trong khuôn viên trường lặp lại mỗi năm đã là chuỗi số liệu quý.

Về pháp lý, các hoạt động trong rừng đặc dụng, rừng phòng hộ chịu sự điều chỉnh của Luật Lâm nghiệp 2017 và Luật Đa dạng sinh học 2008. Bạn nên kiểm văn bản hiện hành và quy định riêng của từng khu bảo tồn trước khi vào rừng thu mẫu hay ghi nhận.

Câu hỏi thường gặp

Ong không ngòi có nằm trong Sách đỏ Việt Nam không?

Theo những gì đã được công bố rộng rãi, ong không ngòi chưa phải nhóm được đánh giá kỹ trong các danh lục bảo tồn quốc gia. Điều đó phản ánh việc thiếu dữ liệu nhiều hơn là ong an toàn. Bạn nên tra trực tiếp ấn bản Sách đỏ và danh mục loài được ưu tiên bảo vệ hiện hành để có câu trả lời mới nhất.

Nuôi ong dú nhiều hơn có giúp bảo tồn ong không ngòi không?

Nuôi ong giúp nhiều người hiểu và quý ong hơn, nhưng không thay được quần thể hoang dã. Đàn nuôi thường tập trung vào vài loài dễ nuôi, còn những loài làm tổ khó, ít mật thì không ai nuôi. Nếu đàn giống lấy từ rừng, việc nuôi còn có thể tạo thêm sức ép.

Thấy ong dú vẫn bay nhiều quanh vườn có nghĩa là quần thể ổn không?

Chưa chắc. Số ong trên hoa phụ thuộc mùa, thời tiết và số tổ ở gần. Hai, ba tổ khoẻ cạnh vườn có thể tạo cảm giác rất đông. Muốn biết quần thể ổn hay không cần đếm tổ và lặp lại nhiều năm ở cùng một nơi.

Ong không ngòi khác các loài ong rừng khác về mức bị đe doạ thế nào?

Ong mật hoang dã như ong khoái có thể di cư theo mùa hoa và bỏ tổ khi điều kiện xấu. Ong không ngòi gắn chặt với một hốc tổ và chia đàn sát tổ mẹ, nên kém linh hoạt hơn khi cảnh quan thay đổi nhanh. Mỗi nhóm có điểm yếu riêng.

Có nên đem tổ ong không ngòi ở cây sắp bị chặt đi nơi khác không?

Nếu cây chắc chắn bị chặt, chuyển nguyên khúc cây có tổ sang chỗ an toàn gần đó thường tốt hơn để đàn chết. Việc này nên nhờ người có kinh nghiệm làm và giữ trong cùng vùng, tránh đem đàn đi xa sang vùng sinh thái khác.

Ở Việt Nam đã có ai theo dõi quần thể ong không ngòi lâu dài chưa?

Có các nhóm nghiên cứu về ong và thụ phấn ở viện, trường đại học trong nước, nhưng chuỗi số liệu theo dõi cùng địa điểm qua nhiều năm được công bố rộng rãi còn rất ít. Đây là một trong những khoảng trống lớn nhất của lĩnh vực này.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.