OngMuoi.comOng Muỗi
Nghiên cứu và bảo tồn

Chuyển đàn ong không ngòi đi xa: rủi ro di truyền, nhầm loài và sinh vật gây hại

Đàn ong dú mua bán, gửi đi tỉnh xa có thể mang theo dòng gen lạ, loài khác tên và sinh vật gây hại. Vì sao giới nghiên cứu khuyên giữ đàn trong cùng vùng sinh thái.

A pickup truck bed on a rural road in Đắk Lắk loaded with sawn log sections and wooden boxes holding stingless bee colonies, seen from behind, dusty golden afternoon

Chuyển đàn ong không ngòi đi xa, chẳng hạn từ rừng miền Trung vào vườn Đông Nam Bộ hay từ nước ngoài vào Việt Nam, kéo theo ba rủi ro chính cho quần thể bản địa: trộn dòng gen giữa những quần thể vốn tách biệt, đưa nhầm một loài khác vào vùng mới, và mang theo sinh vật gây hại hay mầm bệnh. Với một đàn đơn lẻ, rủi ro nhỏ. Khi việc mua bán đàn diễn ra thường xuyên, quy mô lớn, rủi ro cộng dồn thành chuyện của cả vùng.

Bài này không bàn chuyện buôn bán như một nghề, cũng không hướng dẫn cách vận chuyển. Mục tiêu là giải thích vì sao các nhà nghiên cứu ong không ngòi ở nhiều nước thường khuyên ưu tiên đàn địa phương, và điều đó có cơ sở sinh học đến đâu.

Vì sao ong không ngòi tự nhiên ít khi đi xa

Như đã biết, ong không ngòi lập đàn mới rất gần tổ mẹ, vì chúa mẹ không bay được và ong thợ phải chở vật liệu sang tổ con nhiều ngày liền. Qua hàng nghìn năm, kiểu chia đàn này tạo ra những quần thể địa phương khá tách biệt: mỗi thung lũng, mỗi dải rừng có thể mang những đặc điểm di truyền riêng, chỉ nối với nhau qua con đường ong đực đi tìm chúa.

Trong điều kiện tự nhiên, sự tách biệt ấy là nguyên liệu cho thích nghi. Quần thể ở vùng khô nóng, có mùa khô kéo dài, có thể khác quần thể ở vùng mưa ẩm quanh năm về giờ hoạt động, khả năng điều hoà nhiệt trong tổ, cách tích trữ thức ăn. Phần lớn những khác biệt này chưa được đo cụ thể cho các loài ở Việt Nam, nhưng nguyên lý chung về thích nghi địa phương đã được ghi nhận ở rất nhiều nhóm côn trùng.

Khi con người cưa khúc cây có tổ, chở hàng trăm cây số rồi đặt xuống một vùng khác, đàn ong vượt qua khoảng cách mà tự nó không bao giờ đi được. Một lần thì không sao. Hàng nghìn lần trong vài năm thì đó là một dòng chảy gen nhân tạo, mạnh hơn bất cứ dòng chảy tự nhiên nào trước đó.

Rủi ro thứ nhất: trộn dòng gen

Trộn gen không phải lúc nào cũng xấu. Với một quần thể nhỏ đang cận huyết, thêm gen từ ngoài có thể giúp. Vấn đề nằm ở chỗ trộn diễn ra không kiểm soát, giữa những quần thể vốn khác nhau, và không ai theo dõi kết quả.

Mất đặc điểm thích nghi địa phương. Nếu ong đực từ đàn nhập về giao phối với chúa tơ của đàn bản địa qua nhiều thế hệ, những tổ hợp gen giúp quần thể địa phương hợp khí hậu, hợp nguồn hoa ở đó có thể bị pha loãng. Hệ quả này diễn ra chậm và rất khó nhìn thấy bằng mắt.

Lai giữa các loài gần nhau. Ở Úc, các nghiên cứu di truyền đã ghi nhận dấu hiệu lai giữa những loài Tetragonula có họ hàng gần ở vùng phân bố chồng lấn. Điều đó cho thấy ranh giới loài trong chi này không kín tuyệt đối, và việc đưa loài gần nhau vào cùng một vùng có thể tạo ra lai giống mà trước đó hiếm khi xảy ra.

Khó đảo ngược. Một loài lạ du nhập có thể bị bắt lại hay loại bỏ, ít nhất về lý thuyết. Gen đã trộn vào quần thể hoang dã thì không có cách nào rút ra. Vì vậy, nguyên tắc thận trọng thường được đặt lên trước.

Bài học từ việc chuyển ong mật giữa các châu lục

Lịch sử ong mật cho thấy rủi ro của việc chuyển ong đi xa không phải chuyện lý thuyết. Ve Varroa vốn sống trên ong nội châu Á Apis cerana, gần như cân bằng với vật chủ. Khi ong mật châu Âu Apis mellifera được đưa sang châu Á để nuôi, ve chuyển sang vật chủ mới vốn không có cơ chế chống đỡ, rồi theo đường buôn bán ong lan đi gần khắp thế giới. Ngày nay Varroa được xem là vấn đề lớn nhất trong nghề nuôi ong mật ở nhiều nước.

Ví dụ thứ hai là ong mật lai châu Phi ở châu Mỹ. Một số chúa ong châu Phi được đưa vào Brazil giữa thế kỷ trước cho mục đích nghiên cứu, lai với ong châu Âu đã có sẵn, và dòng lai lan dần ra phần lớn Nam Mỹ, Trung Mỹ. Đó là một ca trộn gen trên diện rộng mà không ai có thể rút lại. Ví dụ thứ ba là bọ tổ ong nhỏ, từ châu Phi theo đường thương mại đến Bắc Mỹ rồi Úc, và ở Úc nó còn tấn công cả đàn ong không ngòi.

Cả ba ví dụ đều liên quan ong mật, nhóm ong được theo dõi kỹ nhất thế giới. Với ong không ngòi, việc buôn bán đàn diễn ra ở quy mô nhỏ hơn nhưng gần như không được theo dõi. Nếu một vấn đề tương tự xảy ra, khả năng cao là nó được phát hiện muộn. Đó là lý do người làm bảo tồn muốn áp dụng nguyên tắc thận trọng từ sớm, thay vì chờ có thiệt hại rồi mới đo.

Rủi ro thứ hai: đưa nhầm loài

Phân loại ong không ngòi ở Đông Nam Á, đặc biệt chi Tetragonula, khó đến mức chuyên gia cũng phải dựa vào mẫu vật dưới kính lúp và phân tích ADN mới tách được một số loài. Người mua bán đàn thường gọi chung là ong dú, ong đen, ong muỗi, dựa trên màu thân, hình cửa tổ. Hai đàn cùng tên gọi dân gian có thể thuộc hai loài khác nhau.

Khi một đàn từ vùng khác được đặt vào vườn, rất có thể bạn đang đưa vào một loài chưa từng có ở địa phương. Loài mới có thể cạnh tranh hốc tổ và nguồn hoa với loài bản địa; một số loài ong không ngòi được biết là có tập tính cướp mật hoặc tấn công tổ đàn khác. Mức độ của những tương tác này giữa các loài ở Việt Nam chưa được nghiên cứu nhiều, nên khó nói trước chuyện gì sẽ xảy ra.

Rủi ro này còn lớn hơn khi đàn đến từ nước ngoài. Một loài ong không ngòi phổ biến ở nước láng giềng không chắc có mặt tự nhiên ở Việt Nam. Nhập về để nuôi là đưa một sinh vật ngoại lai vào hệ sinh thái, việc thuộc diện quản lý theo các quy định về kiểm dịch và đa dạng sinh học; bạn cần kiểm văn bản hiện hành trước khi nghĩ đến chuyện này.

Rủi ro thứ ba: sinh vật gây hại đi theo khúc cây

Một khúc cây có tổ ong không chỉ chứa ong. Nó chứa cả những sinh vật sống nhờ tổ, sống trong gỗ, sống trong đất bám rễ. Tài liệu về ong không ngòi ở nhiều nước nhắc đến các nhóm sau.

  • Ruồi thuộc họ Phoridae (ruồi gù), đẻ trứng vào bầu phấn, bầu mật khi tổ bị mở hoặc bị tổn thương; được xem là một trong những sinh vật gây hại phổ biến nhất của đàn ong không ngòi nuôi.
  • Bọ tổ ong nhỏ, vốn là sinh vật gây hại của ong mật, đã được ghi nhận tấn công đàn ong không ngòi ở những nơi loài bọ này đã du nhập.
  • Kiến, mối, nấm mốc trong gỗ mục, có thể là loài đã có ở nơi đến hoặc chưa.
  • Mầm bệnh vi sinh trong tổ, mà hiểu biết hiện nay về ong không ngòi còn rất hạn chế so với ong mật.
  • Sâu mọt, côn trùng hại gỗ nằm trong thân cây, không liên quan đến ong nhưng cũng đi theo khúc gỗ sang vùng mới.

Điều đáng lưu ý là việc chở gỗ, cây sống, đất giữa các vùng vốn đã nằm trong diện quản lý kiểm dịch thực vật. Khúc cây có tổ ong không phải ngoại lệ chỉ vì người chở nhắm vào con ong.

Mức rủi ro theo khoảng cách và nguồn đàn

Bảng sau là cách xếp tương đối mà nhiều người làm bảo tồn ong dùng để suy nghĩ, không phải quy định pháp lý và không có ngưỡng khoảng cách cố định.

Nguồn đànRủi ro di truyềnRủi ro nhầm loàiRủi ro sinh vật gây hại
Chia đàn từ tổ trong cùng vườn, cùng xãThấpThấpThấp, đã có sẵn ở địa phương
Đàn từ vùng lân cận cùng kiểu rừng, cùng khí hậuThấp đến vừaThấp đến vừaVừa
Đàn từ vùng sinh thái khác trong nướcVừa đến caoVừa đến caoVừa đến cao
Đàn nhập từ nước khácCaoCao, có thể là loài ngoại laiCao, thêm cả vấn đề kiểm dịch

Ranh giới "vùng sinh thái" ở đây hiểu theo kiểu rừng, độ cao, chế độ mưa, không theo ranh giới tỉnh. Đồng Nai và Lâm Đồng nằm cạnh nhau về hành chính nhưng có những vùng sinh thái rất khác nhau, từ rừng thấp đến cao nguyên. Ngược lại, hai điểm thuộc hai tỉnh khác nhau nhưng cùng một dải rừng liền mạch có thể chung một quần thể ong.

Bảng cũng cho thấy rủi ro không chỉ nằm ở khoảng cách. Một đàn chở từ gần nhưng là khúc cây vừa cưa từ rừng đặc dụng vẫn là vấn đề, vì nó lấy đi một đàn hoang dã. Nguồn đàn và khoảng cách cần xét cùng lúc.

Nếu bạn nuôi ong không ngòi, nên làm gì

Những gợi ý dưới đây không thay cho quy định của cơ quan quản lý, nhưng phản ánh cách nghĩ thận trọng mà giới nghiên cứu ong không ngòi thường khuyến nghị.

  • Ưu tiên tách đàn từ đàn bạn đang có hoặc từ người nuôi trong cùng vùng, thay vì mua đàn chở từ xa.
  • Hỏi rõ nguồn gốc đàn: đàn tách từ thùng nuôi hay khúc cây vừa cưa ở rừng; nếu là khúc cây từ rừng, cân nhắc không mua.
  • Không mua đàn nhập từ nước ngoài theo đường không chính thức; ngoài rủi ro sinh học còn là rủi ro pháp lý.
  • Khi chia sẻ ảnh đàn ong, ghi rõ vùng gốc của đàn; thông tin này có ích cho người nghiên cứu phân bố loài.
  • Nếu thấy đàn có sinh vật lạ (ruồi nhỏ bu bầu phấn, ấu trùng lạ), không chuyển đàn đó đi nơi khác, và hỏi người có chuyên môn.

Nguyên tắc giữ đàn trong vùng vừa bảo vệ quần thể hoang dã, vừa có lợi cho chính người nuôi, vì đàn bản địa thường hợp khí hậu và nguồn hoa ở đó hơn. Một đàn chở từ vùng mưa ẩm về vùng có mùa khô gắt có thể yếu dần mà người nuôi không hiểu lý do, rồi lại mua thêm đàn mới, và vòng lặp chở đàn tiếp tục.

Câu hỏi thường gặp

Mua đàn ong dú từ tỉnh khác về nuôi có vi phạm pháp luật không?

Việc mua bán ong dú nuôi giữa các tỉnh không tự động là vi phạm, nhưng vận chuyển gỗ, cây có nguồn gốc từ rừng và sinh vật qua các vùng có thể thuộc diện quản lý lâm sản, kiểm dịch. Bạn nên hỏi cơ quan kiểm lâm, kiểm dịch thực vật địa phương và kiểm văn bản hiện hành.

Làm sao biết đàn ong không ngòi mình mua là loài gì?

Thường không thể biết chắc chỉ bằng mắt. Định loại đến loài cần mẫu ong thợ xem dưới kính lúp theo khoá định loại và trong nhiều trường hợp cần phân tích ADN. Người nuôi chỉ nên coi tên dân gian là tên gọi chung, không phải tên loài.

Đàn ong từ nơi khác có cạnh tranh với ong bản địa không?

Có thể có, vì cùng cần hốc tổ và nguồn hoa, và một số loài ong không ngòi có tập tính cướp mật của đàn khác. Mức độ cụ thể giữa các loài ở Việt Nam chưa được nghiên cứu nhiều, nên đây là rủi ro cần phòng hơn là điều đã đo được.

Nếu đàn ong bản địa trong vùng đã mất hết thì có nên đưa đàn từ xa về không?

Trước hết nên tìm đàn ở vùng gần nhất có cùng điều kiện sinh thái. Nếu buộc phải đưa đàn xa hơn, việc này nên nằm trong một kế hoạch phục hồi có chuyên gia, có kiểm tra sức khoẻ đàn và theo dõi sau khi thả.

Ruồi gù hại ong không ngòi có nguy hiểm cho người không?

Theo những gì đã biết, ruồi họ Phoridae hại đàn ong chủ yếu là vấn đề với đàn ong, không phải mối nguy cho người. Tác hại của chúng là ấu trùng phá bầu phấn, bầu mật, làm đàn suy yếu, nhất là ở đàn vừa bị mở hoặc chia.

Ong đực từ đàn nuôi có thật sự giao phối với chúa của đàn hoang dã không?

Về nguyên lý là có, vì ong đực rời tổ đi tìm chúa tơ ở các đàn khác trong vùng. Ở một số nước, nghiên cứu di truyền đã dùng chính hiện tượng này để ước tính số tổ quanh một điểm. Vì vậy đàn nuôi không tách biệt hoàn toàn với quần thể hoang dã.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.