OngMuoi.comOng Muỗi
Ong muỗi và những loài tí hon

Ong muỗi có mật không: bầu mật tí hon và vì sao không ai nuôi ong muỗi lấy mật

Ong muỗi có làm mật và cất trong bầu sáp nhựa như mọi ong không ngòi, nhưng lượng rất ít. Vì sao không nuôi lấy mật và cái tên mật ong muỗi nói được gì.

Macro inside a narrow rock crevice in Khanh Hoa, a cluster of tiny amber resin pots the size of peppercorns glistening with honey, minute bees on top, warm side light

Ong muỗi có làm mật. Như mọi ong không ngòi, chúng thu mật hoa, cô đặc lại và cất trong những bầu chứa hình trứng làm từ hỗn hợp sáp và nhựa cây. Điểm khác là mọi thứ đều tí hon: đàn nhỏ, bầu nhỏ, số bầu ít, nên lượng mật cả tổ chỉ đủ nuôi chính đàn ong qua những ngày thiếu hoa.

Vì vậy, ong muỗi theo nghĩa hẹp, tức các loài thuộc chi Lisotrigona, không phải đối tượng nuôi lấy mật. Khi bạn thấy sản phẩm mang tên "mật ong muỗi", nhiều khả năng đó là cách gọi thương mại cho mật của ong không ngòi khác. Bài này giải thích ong muỗi làm mật ra sao, vì sao lượng mật ít, và cần hiểu cái tên "mật ong muỗi" thế nào cho đúng.

Ong muỗi làm mật như thế nào

Quy trình làm mật của ong không ngòi về cơ bản giống ong mật. Ong thợ đi kiếm ăn hút mật hoa vào diều, một đoạn ruột trước giãn rộng để chứa dịch, rồi bay về tổ. Trong lúc bay và khi về tổ, enzyme từ tuyến nước bọt của ong được trộn vào, bắt đầu phân giải đường sucrose trong mật hoa thành glucose và fructose.

Ở tổ, mật hoa được chuyển vào bầu chứa. Ong để nước bay hơi bớt nhờ không khí lưu thông trong tổ và nhờ ong quạt cánh. Khác với ong mật thường cô đặc mật đến độ ẩm khá thấp rồi đóng nắp sáp, mật của nhiều loài ong không ngòi giữ độ ẩm cao hơn, và quá trình lên men nhẹ do vi sinh vật trong bầu chứa là một phần bình thường của mật.

Bầu chứa của ong không ngòi làm từ cerumen, hỗn hợp sáp ong tiết ra trộn với nhựa cây. Nhựa cây mang theo các hợp chất của chính loài cây đó, nên mật trong bầu có thể nhuốm mùi và vị của nhựa. Đây là một lý do khiến mật ong không ngòi có hương vị khác hẳn mật ong mật.

Ong muỗi được cho là đi theo cùng quy trình này, chỉ ở quy mô nhỏ hơn rất nhiều. Các chi tiết riêng như độ ẩm mật hay thời gian ủ chưa được đo cụ thể cho ong muỗi.

Vì sao lượng mật của ong muỗi rất ít

Đàn nhỏ. Đàn ong muỗi theo những gì đã được mô tả có số ong thợ ít hơn nhiều so với đàn ong dú. Ít ong đi kiếm ăn thì ít mật hoa được mang về.

Mỗi chuyến chở rất ít. Lượng mật hoa một con ong mang được tỷ lệ với cỡ cơ thể. Một con ong muỗi chỉ dài vài milimét, mỗi chuyến chở được lượng dịch nhỏ hơn hẳn so với ong dú hay ong mật.

Phạm vi bay ngắn. Ong nhỏ nhìn chung kiếm ăn trong phạm vi hẹp hơn ong lớn. Đàn ong muỗi chỉ khai thác được hoa trong bán kính gần tổ, nên tổng nguồn mật hoa sẵn có cũng nhỏ.

Khoang tổ hẹp. Tổ trong khe hẹp không có chỗ để xếp nhiều bầu chứa. Đàn phải cân đối giữa chỗ nuôi ấu trùng, chỗ cất phấn và chỗ cất mật.

Mật để dùng, không để thừa. Với ong, mật là nhiên liệu cho chuyến bay, cho việc giữ ấm tổ và là thức ăn dự trữ cho ấu trùng. Một đàn nhỏ dùng gần hết những gì nó thu được, ít khi có dư lớn như đàn ong mật mạnh.

Ong muỗi, ong dú và ong mật: chuyện mật nhìn từ ba phía

Bảng dưới so sánh ở mức định tính, vì số liệu đo về ong muỗi còn rất ít. Mục đích là cho thấy vì sao ong mật và ong dú là vật nuôi lấy mật, còn ong muỗi thì không.

Tiêu chíOng mật ApisOng dú TetragonulaOng muỗi Lisotrigona
Cỡ đànLớnTrung bìnhNhỏ
Nơi cất mậtBánh sáp lục giácBầu cerumen hình trứngBầu cerumen tí hon
Độ ẩm mật nói chungThấp hơnCao hơnChưa có số liệu đo
Có truyền thống nuôiCó, rất phổ biếnCó, ở nhiều vùngKhông
Thu mật thực tếCó thểCó thể, lượng ítGần như không

Bảng không có ý so hơn kém giữa các loài ong. Mỗi nhóm thích nghi với một ngách sống khác nhau; ong muỗi "ít mật" là vì nó sống kiểu một đàn nhỏ trong khe hẹp, không phải vì nó kém.

Dòng độ ẩm ghi "chưa có số liệu đo" cho ong muỗi là cố ý: suy từ ong dú sang ong muỗi là việc dễ làm nhưng chưa có cơ sở.

Mật, phấn và nhựa: ba thứ ong muỗi mang về tổ

Mật hoa cho năng lượng. Ong thợ hút mật hoa vào diều, mang về tổ để cô đặc thành mật. Đây là nguồn đường duy nhất đủ lớn để nuôi cả đàn, nên phần lớn các chuyến bay kiếm ăn là để lấy mật hoa.

Phấn hoa cho đạm. Phấn được nén vào giỏ phấn ở chân sau, mang về cất trong bầu phấn riêng, nơi nó được ủ và lên men nhẹ trước khi dùng. Ấu trùng cần đạm từ phấn để lớn, nên đàn không thể sống chỉ bằng mật.

Nhựa cây cho vật liệu xây dựng. Ong thợ cạo nhựa từ vết thương trên thân cây, chồi non hay quả, mang về trộn với sáp làm cerumen. Không có nhựa thì không có bầu chứa, không có ô ấu trùng và không có viền cửa tổ.

Nước, mồ hôi, nước mắt cho khoáng. Ngoài ba thứ chính, ong muỗi còn được ghi nhận lấy dịch có muối và đạm từ người, động vật. Chưa rõ phần này có được cất vào tổ hay không.

Cân bằng giữa các nhu cầu. Vì đàn nhỏ, mỗi con ong thợ đi lấy nhựa là bớt một con đi lấy mật. Lượng mật dư ít một phần cũng vì đàn phải chia sức cho nhiều việc cùng lúc.

Mật ong không ngòi khác mật ong mật ở đâu

Để hiểu vị trí của mật ong muỗi, cần biết khái quát về mật ong không ngòi. Nhìn chung, mật của nhiều loài ong không ngòi loãng hơn, chua hơn và có hương vị phức tạp hơn mật ong mật. Độ ẩm cao làm mật dễ lên men nếu để ngoài tổ, nên người nuôi ong dú thường có cách bảo quản riêng.

Một điểm được giới khoa học quan tâm là trehalulose, một loại đường đã được ghi nhận chiếm tỷ lệ đáng kể trong mật của một số loài ong không ngòi. Đây là phát hiện về thành phần, chưa phải là cơ sở cho bất kỳ khẳng định sức khoẻ nào. Mật ong muỗi có trehalulose hay không thì chưa có số liệu.

Các tiêu chuẩn mật ong hiện hành ở nhiều nước được xây dựng chủ yếu cho mật ong Apis, nên mật ong không ngòi thường "trượt" một số chỉ tiêu như độ ẩm. Một số nước đã đề xuất tiêu chuẩn riêng cho mật ong không ngòi. Chi tiết phân tích thuộc về một chủ đề riêng của trang; ở đây chỉ cần nhớ rằng mật ong không ngòi là một nhóm sản phẩm khác, không phải "mật ong thường kém chất lượng".

Cái tên "mật ong muỗi" trên thị trường nói được gì

Đôi khi bạn sẽ gặp sản phẩm được giới thiệu là mật ong muỗi. Trước khi tin vào cái tên, nên cân nhắc mấy điểm sau:

  • Tên dân gian "ong muỗi" ở nhiều nơi được dùng cho mọi ong không ngòi nhỏ, nên "mật ong muỗi" thường là mật ong dú hoặc mật của ong không ngòi khác, không nhất thiết từ chi Lisotrigona.
  • Khai thác một lượng mật đáng kể từ ong muỗi theo nghĩa hẹp là điều khó tưởng tượng, vì tổ nhỏ và nằm trong khe đá, khe cây; muốn lấy phải phá tổ.
  • Không có cách nào nhìn bằng mắt để biết mật đến từ loài ong nào. Xác định nguồn gốc loài ong cần phân tích phòng thí nghiệm, và ngay cả khi đó cũng không đơn giản.
  • Mọi lời quảng cáo mật ong, kể cả mật ong không ngòi, là "chữa" bệnh này bệnh kia đều không có cơ sở để tin. Mật là thực phẩm, không phải thuốc.
  • Trẻ dưới 12 tháng tuổi không dùng mật ong dưới bất kỳ dạng nào. Người có bệnh mạn tính, đặc biệt là bệnh liên quan đến đường huyết, nên hỏi bác sĩ, dược sĩ trước khi dùng mật thường xuyên.

Nói ngắn gọn, nếu bạn muốn dùng mật ong không ngòi, hãy coi nó là mật ong không ngòi nói chung và chọn theo nguồn gốc minh bạch của người nuôi, thay vì trả giá cho một cái tên.

Mật trong tổ ong muỗi dùng vào việc gì

Trong đời sống của đàn ong muỗi, mật có ba vai trò chính. Thứ nhất là nhiên liệu: ong thợ đi kiếm ăn đốt đường để bay, và với con ong nhỏ cỡ vài milimét, mỗi chuyến bay tiêu tốn năng lượng đáng kể so với khối lượng cơ thể. Mật dự trữ trong tổ giúp ong có năng lượng ra khỏi tổ ngay cả khi buổi sáng chưa có hoa nở.

Thứ hai là thức ăn cho ấu trùng. Ở ong không ngòi, mỗi ô ấu trùng được đổ đầy một hỗn hợp mật và phấn trước khi ong chúa đẻ trứng vào rồi ô được bịt kín. Ấu trùng lớn lên hoàn toàn nhờ lượng thức ăn có sẵn trong ô, khác với ấu trùng ong mật được ong thợ cho ăn liên tục.

Thứ ba là dự trữ cho những giai đoạn thiếu hoa: những ngày mưa liên tục khi ong không ra khỏi tổ được, hoặc những tuần giữa hai mùa hoa. Với ong muỗi, kho dự trữ nhỏ nên đàn rất nhạy với thời tiết xấu kéo dài.

Hiểu ba vai trò này giúp thấy rõ vì sao lấy mật của ong muỗi là việc gây hại: mỗi giọt mật là phần sống còn của một đàn nhỏ, không có phần dư để chia cho người.

Những điều chưa biết về mật ong muỗi

Phần lớn hiểu biết về mật ong không ngòi đến từ những loài lớn, được nuôi phổ biến. Với ong muỗi, danh sách điều chưa biết còn dài:

  • Độ ẩm, độ chua và thành phần đường của mật ong muỗi chưa được phân tích một cách hệ thống.
  • Chưa rõ ong muỗi lấy mật chủ yếu từ những loài cây nào, và có ưu tiên hoa nhỏ hay không.
  • Tỷ lệ giữa mật và phấn trong tổ ong muỗi thay đổi thế nào theo mùa vẫn chưa được ghi nhận.
  • Vai trò của vi sinh vật trong bầu mật ong muỗi, vốn được quan tâm ở các ong không ngòi khác, gần như chưa được nghiên cứu.
  • Chưa rõ nước mắt và mồ hôi mà ong muỗi thu được có được đưa vào bầu chứa hay chỉ dùng ngay.

Những câu hỏi này cần mẫu từ tổ tự nhiên, nên việc nghiên cứu đòi hỏi cách lấy mẫu rất nhỏ, không phá tổ. Đây là lý do tiến độ chậm.

Câu hỏi thường gặp

Mật ong muỗi có tốt hơn mật ong thường không?

Không có cơ sở để nói mật ong muỗi tốt hơn. Mật ong không ngòi khác mật ong mật về độ ẩm, vị chua và một số thành phần, nhưng khác không có nghĩa là tốt hơn cho sức khoẻ. Mật nào cũng là thực phẩm chứa nhiều đường.

Ong muỗi có làm sáp như ong mật không?

Ong muỗi tiết sáp như các ong không ngòi khác, nhưng trộn sáp với nhựa cây thành cerumen để xây bầu chứa và ô ấu trùng. Lượng sáp rất nhỏ và không có giá trị khai thác.

Có thể nuôi ong muỗi trong thùng như ong dú không?

Chưa có kỹ thuật nuôi ong muỗi được công nhận rộng rãi ở Việt Nam. Đàn nhỏ, tổ trong khe hẹp, và hiểu biết về đời sống đàn còn ít. Bắt tổ tự nhiên về thử nuôi thường làm chết đàn.

Mật ong muỗi có vị như thế nào?

Chưa có mô tả đáng tin về vị mật ong muỗi theo nghĩa hẹp. Mật ong không ngòi nói chung thường được mô tả là chua nhẹ, loãng và có mùi nhựa cây. Những lời mô tả "mật ong muỗi" trên mạng thường là của mật ong dú.

Trẻ nhỏ có ăn được mật ong không ngòi không?

Trẻ dưới 12 tháng tuổi không dùng mật ong, kể cả mật ong không ngòi, vì nguy cơ ngộ độc do vi khuẩn có trong mật. Với trẻ lớn hơn, ba mẹ nên hỏi bác sĩ nhi khoa nếu bé có bệnh nền.

Vì sao mật ong không ngòi dễ lên men?

Vì mật của nhiều loài ong không ngòi có độ ẩm cao hơn mật ong mật, tạo điều kiện cho nấm men và vi khuẩn hoạt động. Trong tổ, lên men nhẹ là một phần tự nhiên; ngoài tổ, nó làm mật đổi vị nếu không được bảo quản đúng.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.