OngMuoi.comOng Muỗi
Ong và thuốc bảo vệ thực vật

Vì sao ong không ngòi nhạy với thuốc trừ sâu hơn ong mật

Ong không ngòi thường chết ở liều thuốc trên mỗi con thấp hơn ong mật. Bài giải thích vì kích thước, cách sống của đàn, kho thức ăn và cách nuôi ấu trùng.

Macro view of a single tiny stingless bee beside a much larger honeybee on a pale pink rambutan flower spike in a Vinh Long garden, morning light

Ong không ngòi thường nhạy với thuốc trừ sâu hơn ong mật vì cơ thể nhỏ hơn nên cùng một lượng thuốc là liều lớn hơn so với khối lượng, đàn ít ong và không thể bỏ tổ chạy trốn, thức ăn nhiễm thuốc được giữ lâu trong tổ, ấu trùng ăn trọn phần thức ăn đổ sẵn, và chúng kiếm ăn trong bán kính hẹp quanh tổ. Mức nhạy cụ thể khác nhau giữa các loài, và tính theo khối lượng cơ thể thì khoảng cách đôi khi không lớn như con số trên mỗi con.

Câu hỏi này quan trọng vì hầu hết thông tin độc tính "với ong" trên thế giới, kể cả cảnh báo trên nhãn thuốc, được xây dựng từ ong mật. Hiểu chỗ khác nhau giúp bạn biết khi nào thông tin đó còn dùng được cho ong dú, ong muỗi, và khi nào cần thận trọng hơn.

Câu trả lời ngắn và giới hạn của nó

Những thử nghiệm so sánh trên ong không ngòi, phần lớn làm ở Brazil với các chi Melipona, Scaptotrigona, Nannotrigona, Partamona, và một ít ở Đông Nam Á, Úc với chi Tetragonula, thường cho kết quả: liều gây chết một nửa số ong tính trên mỗi con thấp hơn ong mật với nhiều hoạt chất. Nghĩa là, nếu chỉ nhìn con số trên mỗi con, ong không ngòi nhạy hơn.

Nhưng khi quy liều ra trên mỗi gam khối lượng cơ thể, một số tổng hợp nghiên cứu thấy khoảng cách thu hẹp đáng kể, có hoạt chất ong không ngòi còn chịu tốt hơn. Kết quả cũng dao động rộng giữa các loài, giữa các phòng thí nghiệm và giữa các hoạt chất. Không thể nói chung chung rằng "ong không ngòi nhạy gấp bao nhiêu lần ong mật".

Vậy tại sao người ta vẫn lo cho ong không ngòi nhiều hơn? Vì ngoài vườn, ong không bị phun thuốc theo đơn vị gam cơ thể. Một màn sương thuốc rơi lên con ong to hay con ong nhỏ đều để lại những giọt có kích thước như nhau. Cộng thêm cách sống của đàn, những yếu tố ngoài độc tính tế bào mới là điều làm ong không ngòi dễ tổn thương hơn ở cấp quần thể.

Kích thước nhỏ: cùng một giọt thuốc, liều lớn hơn

Ong muỗi thuộc chi Lisotrigona thuộc loại ong nhỏ nhất được biết, và nhiều loài Tetragonula cũng chỉ bằng một phần nhỏ ong mật về khối lượng. Khi một hạt sương thuốc rơi lên thân, lượng hoạt chất trong hạt đó là cố định. Con ong nhỏ nhận cùng lượng đó, nhưng khối lượng cơ thể để "chia" liều ít hơn nhiều, nên nồng độ thuốc trong cơ thể tăng nhanh hơn.

Thêm vào đó, con vật càng nhỏ thì diện tích bề mặt so với thể tích càng lớn. Thuốc tiếp xúc ngấm qua lớp vỏ ngoài, nên diện tích bề mặt lớn hơn tương đối nghĩa là đường vào rộng hơn tương đối. Lông trên thân ong không ngòi cũng giữ giọt thuốc và bụi tốt, giống như cách chúng giữ hạt phấn.

Về giải độc, cơ thể nhỏ có ít mô và ít enzyme tuyệt đối hơn để xử lý hoạt chất. Đây là suy luận sinh lý phổ biến, nhưng khả năng giải độc thực tế của từng chi ong không ngòi còn ít được đo trực tiếp. Bạn nên xem nó như một lý do đáng tin để thận trọng, không phải như một con số đã được chứng minh.

Cần nói thêm rằng kích thước nhỏ không chỉ bất lợi. Ong nhỏ cũng ít khi bay xuyên qua màn sương thuốc ở tầng cao của tán, vì nhiều loài ưa kiếm ăn ở hoa thấp và hoa nhỏ. Nhưng chính hoa thấp dưới tán lại là nơi thuốc nhỏ giọt và đọng lại sau khi phun, nên lợi thế này không đáng kể.

Hệ quả thực tế là cùng một lần phun, xác suất một con ong không ngòi nhận đủ liều gây chết thường cao hơn ong mật đứng cạnh nó trên cùng chùm hoa.

Ong mật là loài chuẩn của thử nghiệm độc tính

Khi một hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật được đăng ký ở nhiều nước, dữ liệu độc tính với ong gần như luôn được làm trên ong mật phương Tây. Các hướng dẫn thử nghiệm được dùng rộng rãi của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), như hướng dẫn 213 về độc cấp qua đường miệng và 214 về độc cấp qua tiếp xúc, được viết cho loài này. Lý do dễ hiểu: ong mật dễ nuôi, dễ có số lượng lớn, đã có phương pháp chuẩn.

Cách làm này giả định ong mật là "đại diện" cho các loài ong khác, có thể kèm một hệ số an toàn. Nhiều nhà khoa học đã chỉ ra giả định này chưa đủ, nhất là với ong vùng nhiệt đới có sinh học khác hẳn. Một số cơ quan đánh giá rủi ro đã bắt đầu đưa ong nghệ và ong đơn độc vào yêu cầu thử nghiệm, nhưng ong không ngòi vẫn hầu như vắng mặt trong yêu cầu đăng ký thuốc ở đa số nước.

Ở vùng nhiệt đới, các nhóm nghiên cứu Brazil đã thử chuẩn hoá cách nuôi và thử nghiệm độc tính trên một vài loài ong không ngòi bản địa. Ở Việt Nam và Đông Nam Á, việc này còn ở giai đoạn đầu. Vì vậy, khi đọc cảnh báo "độc với ong" trên nhãn hay trong tài liệu, bạn đang đọc thông tin về ong mật, phải tự suy thêm cho ong không ngòi.

Đặc điểm của đàn khiến tổn thất khó bù

Đàn nhỏ hơn. Một đàn ong mật mạnh có thể có hàng chục nghìn ong thợ. Đàn ong không ngòi của nhiều loài phổ biến ở Việt Nam thường chỉ vài nghìn con, có loài còn ít hơn. Mất cùng một số ong đi kiếm ăn, đàn nhỏ mất tỷ lệ lớn hơn lực lượng của mình.

Ong chúa không bay đi được. Ong chúa ong không ngòi sau khi giao phối và đẻ trứng có bụng phình to, mất khả năng bay. Đàn không thể bỏ tổ chạy sang chỗ khác khi môi trường xấu đi, như ong nội đôi khi làm. Đàn sống hay suy tùy hoàn toàn vào những gì quanh chỗ tổ cố định.

Sinh sản chậm. Ong chúa ong không ngòi đẻ ít trứng mỗi ngày hơn ong chúa ong mật, và đàn chia tách chậm. Một đàn bị mất nhiều ong thợ cần thời gian dài để hồi phục, trong khi ong mật có thể bù số lượng nhanh hơn trong mùa hoa.

Ít cơ hội "pha loãng" thuốc. Đàn ong mật lớn có nhiều ong đi kiếm ăn ở nhiều hướng, nên thức ăn mang về là hỗn hợp từ nhiều nguồn, phần nhiễm thuốc bị pha với phần sạch. Đàn ong không ngòi nhỏ, kiếm ăn gần, thường tập trung vào vài nguồn hoa, nên thức ăn mang về ít được pha loãng như vậy. Một nguồn hoa bị nhiễm có thể chiếm phần lớn khẩu phần của cả đàn trong mùa hoa đó.

Chia đàn phụ thuộc đàn mẹ. Khi ong không ngòi chia đàn, đàn mới vẫn được đàn mẹ tiếp tế vật liệu và thức ăn một thời gian. Đàn mẹ suy vì thuốc kéo theo cả khả năng tạo đàn mới.

Kho thức ăn giữ lâu và kiểu nuôi ấu trùng đặc biệt

Ong không ngòi chứa mật và phấn trong những bầu tròn bằng cerumen, tách riêng khỏi khu ấu trùng. Các bầu này được đổ đầy rồi đậy lại, có thể giữ nhiều tuần hoặc lâu hơn tùy mùa. Thuốc theo mật, phấn về tổ trong một đợt phun ngắn có thể nằm trong kho và được ăn dần sau đó, kéo dài thời gian đàn tiếp xúc.

Cách nuôi ấu trùng của ong không ngòi khác ong mật ở điểm then chốt. Ong mật cho ấu trùng ăn từng ít một, nhiều lần mỗi ngày. Ong không ngòi thì ong thợ đổ một lượng thức ăn lỏng gồm mật, phấn và chất tiết vào ô trước, ong chúa đẻ trứng lên trên, rồi ô được bịt kín. Ấu trùng nở ra ăn hết phần thức ăn đó và lớn lên trong ô kín cho tới khi thành ong.

Hệ quả là nếu phần thức ăn đổ vào ô có thuốc, ấu trùng không có cách nào tránh, và nó ăn trọn liều. Các thí nghiệm nuôi ấu trùng ong không ngòi trong phòng thí nghiệm bằng thức ăn có thuốc đã ghi nhận tỷ lệ sống giảm và tỷ lệ ong trưởng thành dị dạng tăng với một số hoạt chất, kể cả thuốc ít giết ong trưởng thành như nhóm điều hoà sinh trưởng.

So sánh nhanh các đặc điểm liên quan tới rủi ro thuốc

Bảng dưới đặt cạnh nhau những đặc điểm khiến hai nhóm ong phản ứng khác nhau với thuốc ngoài thực tế. Các mô tả là xu hướng chung, mỗi loài cụ thể có thể khác.

Đặc điểmOng mậtOng không ngòiÝ nghĩa với thuốc
Kích thước cơ thểLớn hơnNhỏ, có loài rất nhỏCùng giọt thuốc, liều theo khối lượng cao hơn
Số ong trong đànĐôngÍt hơn nhiềuMất cùng số ong thì tổn thất tương đối lớn hơn
Ong chúa di chuyểnCó thể bay theo đànKhông bay được sau khi đẻKhông thể bỏ chỗ ô nhiễm
Nuôi ấu trùngCho ăn dầnĐổ sẵn trọn phần rồi bịt ôẤu trùng ăn trọn liều nếu thức ăn nhiễm
Vật liệu tổSáp là chínhSáp trộn nhiều nhựa câyThêm đường nhiễm qua nhựa, giữ thuốc ưa dầu
Phạm vi kiếm ănRộngHẹp, nhất là loài nhỏPhơi nhiễm dồn vào vùng quanh tổ

Không đặc điểm nào đứng riêng là đủ để kết luận. Chính việc chúng cộng dồn khiến ong không ngòi được nhiều nhà nghiên cứu coi là nhóm cần bảo vệ thận trọng hơn ong mật trong vùng canh tác dùng nhiều thuốc.

Phạm vi kiếm ăn hẹp: thuốc gần nhà là trúng

Phạm vi bay kiếm ăn của ong liên quan đến kích thước cơ thể. Ong mật thường kiếm ăn trong bán kính vài cây số quanh tổ khi cần. Nhiều loài ong không ngòi nhỏ chỉ kiếm ăn chủ yếu trong vài trăm mét, loài lớn hơn xa hơn. Con số cụ thể thay đổi theo loài, theo địa hình và theo mức sẵn có của hoa.

Bán kính hẹp có hai mặt. Mặt tốt là một vườn được quản lý cẩn thận có thể che chở cho đàn ong không ngòi đặt trong đó. Mặt xấu là nếu vườn đó hoặc vườn sát bên phun thuốc trong mùa hoa, gần như toàn bộ lực lượng kiếm ăn của đàn sẽ đi vào vùng bị phun. Ong không có lựa chọn bay xa tìm hoa sạch như ong mật.

Vì vậy, với ong không ngòi, câu hỏi "trong vòng vài trăm mét quanh tổ đang có gì và được phun gì" quan trọng hơn câu hỏi "cả xã dùng bao nhiêu thuốc". Đây cũng là lý do các nghiên cứu về ong không ngòi và thuốc thường chú ý đến cảnh quan ngay quanh tổ.

Câu hỏi thường gặp

Ong không ngòi có thật sự nhạy với thuốc hơn ong mật không?

Tính liều trên mỗi con, nhiều thử nghiệm cho thấy ong không ngòi nhạy hơn với nhiều hoạt chất. Tính trên khối lượng cơ thể thì khoảng cách nhỏ lại và thay đổi theo loài. Nhưng kích thước nhỏ và cách sống của đàn khiến rủi ro ngoài vườn thường cao hơn.

Vì sao cảnh báo trên nhãn thuốc chủ yếu dựa vào ong mật?

Vì các hướng dẫn thử nghiệm độc tính được dùng rộng rãi, như hướng dẫn của OECD, được viết cho ong mật phương Tây. Ong không ngòi hầu như chưa có trong yêu cầu đăng ký thuốc ở đa số nước.

Đàn ong không ngòi có bỏ tổ khi bị nhiễm thuốc không?

Thường là không. Ong chúa ong không ngòi sau khi bắt đầu đẻ trứng có bụng phình to và không bay được, nên đàn gắn với chỗ tổ cố định và phải chịu đựng điều kiện quanh đó.

Kiểu nuôi ấu trùng của ong không ngòi liên quan gì đến thuốc?

Ong thợ đổ sẵn trọn phần thức ăn vào ô rồi bịt lại, ấu trùng ăn hết phần đó. Nếu thức ăn có thuốc, ấu trùng nhận trọn liều và không thể tránh, nên thuốc ít hại ong trưởng thành vẫn có thể làm hỏng lứa ong non.

Ong không ngòi bay kiếm ăn xa bao nhiêu?

Tùy loài và cảnh quan. Nhiều loài nhỏ kiếm ăn chủ yếu trong vài trăm mét quanh tổ, loài lớn bay xa hơn. Vì bán kính hẹp, thuốc phun trong vùng gần tổ ảnh hưởng tới gần như toàn bộ ong đi kiếm ăn.

Có số liệu độc tính cho ong không ngòi Việt Nam không?

Số liệu công bố rộng rãi cho các chi phổ biến ở Việt Nam như Tetragonula, Lepidotrigona, Lisotrigona còn rất ít. Phần lớn dữ liệu ong không ngòi hiện có đến từ Brazil và một số nước nhiệt đới khác.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.