Tác động dưới ngưỡng gây chết là những thay đổi ở ong khi nhận liều thuốc không đủ làm chết ngay: học và nhớ mùi kém, bay và tìm đường về tổ kém, ăn ít, ấu trùng phát triển kém, ong chúa đẻ ít, sức chống bệnh giảm. Từng con ong không chết vì thuốc, nhưng đàn mất dần lực lượng và suy qua nhiều tuần, thường không để lại xác ong chất đống trước cửa tổ.
Đây là lĩnh vực đã làm thay đổi cách các nhà khoa học đánh giá rủi ro thuốc với ong trong khoảng mười lăm năm gần đây. Bài này tóm tắt những tác động đã được ghi nhận, chủ yếu trên ong mật và ong nghệ, những gì đã biết ở ong không ngòi, và vì sao nhóm tác động này khó phát hiện ngoài vườn.
Dưới ngưỡng gây chết nghĩa là gì
Trong thử nghiệm độc cấp tính, người ta tìm liều làm chết một nửa số ong. Những liều thấp hơn mức đó, đặc biệt thấp hơn nhiều lần, thường được coi là không gây chết trong khoảng thời gian thử nghiệm. Nhưng "không chết trong 48 giờ" không có nghĩa là "không bị ảnh hưởng". Một con ong nhận liều thấp có thể sống bình thường về hình thức nhưng hoạt động kém đi theo những cách mà thử nghiệm chuẩn không đo.
Với thuốc tác động lên hệ thần kinh, điều này dễ hiểu. Hệ thần kinh không chỉ điều khiển sống chết mà còn điều khiển học, nhớ, định hướng, phối hợp vận động, ăn uống và giao tiếp. Liều thấp không làm tê liệt nhưng đủ làm nhiễu những chức năng tinh vi này.
Liều thấp có mặt ngoài môi trường nhiều hơn người ta tưởng. Thuốc phun lên lá rồi phân huỷ dần, nên mỗi ngày sau khi phun là một mức liều thấp hơn hôm trước nhưng chưa bằng không. Hạt thuốc trôi dạt càng xa càng thưa. Mật và phấn từ cây được xử lý thuốc lưu dẫn thường chứa hoạt chất ở nồng độ thấp hơn nhiều so với lá. Nói cách khác, ở hầu hết các tình huống, số ong gặp liều thấp lớn hơn rất nhiều so với số ong gặp liều gây chết, nên tác động dưới ngưỡng gây chết có thể chạm tới phần lớn đàn.
Tác động dưới ngưỡng gây chết thường gắn với phơi nhiễm liều thấp kéo dài, ví dụ ong ăn mật nhiễm thuốc lưu dẫn trong suốt mùa hoa. Nhưng nó cũng có thể xảy ra sau một lần tiếp xúc ngắn với liều không đủ giết, như ong bay qua rìa vùng trôi dạt.
Học và nhớ: ong quên mùi hoa
Ong kiếm ăn dựa nhiều vào trí nhớ: nhớ mùi của loài hoa đang có mật, nhớ màu và hình dạng, liên kết chúng với phần thưởng đường. Ở ong mật, khả năng này được đo bằng một thí nghiệm kinh điển: cố định con ong, cho ngửi một mùi rồi chạm đường lên râu, ong học được sẽ duỗi vòi khi chỉ ngửi mùi đó.
Nhiều thí nghiệm kiểu này cho thấy ong nhận liều thấp neonicotinoid, một số lân hữu cơ hoặc thuốc khác học chậm hơn, nhớ kém hơn hoặc quên nhanh hơn ong không nhận thuốc. Vùng não chịu trách nhiệm học liên kết mùi ở côn trùng giàu thụ thể nicotinic, nên kết quả này khớp với cơ chế tác động của neonicotinoid.
Ngoài vườn, ong học kém nghĩa là tốn thêm thời gian tìm hoa, bỏ qua nguồn mật tốt, mang về ít thức ăn hơn mỗi chuyến. Từng con thì khó thấy, nhưng cả lực lượng kiếm ăn cùng bị ảnh hưởng thì nguồn thu của đàn giảm. Một số thí nghiệm cũng ghi nhận ong nhận thuốc đổi cách chọn hoa, chuyển sang hoa dễ lấy mật hơn hoặc bỏ dở chuyến kiếm ăn, nghĩa là không chỉ trí nhớ mà cả quyết định kiếm ăn bị ảnh hưởng. Với ong không ngòi, vốn dựa vào việc đánh dấu mùi để dẫn đồng đội tới nguồn hoa, rối loạn về mùi có thể ảnh hưởng tới cả cơ chế tuyển mộ ong đi kiếm ăn.
Định hướng và tìm đường về tổ
Một nhóm thí nghiệm nổi tiếng trên ong mật dùng thẻ điện tử nhỏ gắn trên lưng ong để ghi lại lúc ong rời và trở về tổ. Ong được cho ăn liều thấp neonicotinoid rồi thả ở một khoảng cách nhất định. Kết quả cho thấy tỷ lệ ong không về được tổ cao hơn rõ ở nhóm nhận thuốc so với nhóm đối chứng. Các thí nghiệm dùng radar theo dõi đường bay cũng ghi nhận ong nhận thuốc bay lòng vòng, mất phương hướng nhiều hơn.
Mỗi con ong không về được tổ là một con ong chết ngoài đồng, xa tổ, không ai thấy. Với đàn ong, đây giống như một khoản thuế đánh lên lực lượng kiếm ăn mỗi ngày. Nếu tỷ lệ mất vượt quá tốc độ đàn sinh ong mới, đàn sẽ teo dần.
Ong không ngòi có phạm vi kiếm ăn hẹp hơn, nên có thể có người cho rằng chúng ít bị lạc. Nhưng phạm vi hẹp không đồng nghĩa với nhiệm vụ đơn giản: chúng vẫn cần nhận ra cửa tổ nhỏ của mình giữa nhiều hốc cây, thùng ong, và cần đánh giá đúng thời gian, hướng bay trong cảnh quan nhiều vật cản. Số thí nghiệm về khả năng tìm đường của ong không ngòi khi nhận thuốc còn ít, nhưng một số ghi nhận cho thấy khả năng di chuyển và bay của ong thợ giảm sau khi ăn thức ăn có thuốc.
Ấu trùng, ong chúa và khả năng sinh sản của đàn
Ấu trùng phát triển kém. Ở ong không ngòi, các thí nghiệm nuôi ấu trùng trong phòng thí nghiệm bằng thức ăn có thuốc đã ghi nhận tỷ lệ sống giảm, thời gian phát triển kéo dài, và ong trưởng thành có cánh, chân hoặc cơ thể dị dạng tăng lên với một số hoạt chất ở liều thấp. Những ong dị dạng này thường không làm việc được.
Ong chúa và sinh sản. Ở ong nghệ, nhiều nghiên cứu ghi nhận đàn tiếp xúc với neonicotinoid liều thực tế sinh ra ít ong chúa mới hơn. Ở ong mật, một số nghiên cứu thấy ong chúa phát triển trong điều kiện có thuốc có cơ quan sinh sản kém hơn. Dữ liệu tương tự cho ong chúa ong không ngòi còn rất hạn chế.
Ong đực. Một số thí nghiệm trên ong mật cho thấy ong đực tiếp xúc thuốc có chất lượng tinh trùng giảm. Điều này ảnh hưởng tới ong chúa giao phối với chúng và tương lai của đàn mới.
Thuốc ít giết ong trưởng thành vẫn có thể hại ở đây. Nhóm điều hoà sinh trưởng côn trùng được thiết kế để làm rối quá trình lột xác, biến thái của sâu non. Ong trưởng thành ít bị ảnh hưởng, nhưng ấu trùng ong cũng lột xác và biến thái, nên đây là giai đoạn dễ tổn thương.
Những tác động khác đã được ghi nhận
Ngoài học, định hướng và sinh sản, các nghiên cứu còn ghi nhận những thay đổi khác ở ong nhận liều thuốc thấp. Phần lớn là trên ong mật, một số trên ong nghệ và ong không ngòi:
- Giảm hoạt động ăn uống và giảm lượng mật, phấn mang về mỗi chuyến kiếm ăn.
- Thay đổi khả năng vận động: đi chậm, khó lật người, bay ngắn hơn.
- Suy giảm hệ miễn dịch, khiến ong dễ nhiễm bệnh do nấm, vi khuẩn, virus hơn.
- Rối loạn điều hoà nhiệt trong tổ, khi ong thợ khó duy trì nhiệt độ thích hợp cho ấu trùng.
- Thay đổi hành vi xã hội như chăm sóc ấu trùng, vệ sinh tổ, canh gác cửa.
- Thay đổi giờ hoạt động và nhịp ngủ nghỉ của ong.
- Tác động cộng hưởng khi thuốc gặp những áp lực khác như thiếu hoa, nắng nóng, ký sinh trùng.
Điểm cần nhớ là các tác động này hiếm khi xảy ra một mình. Một con ong vừa học kém, vừa bay kém, vừa dễ bệnh thì đóng góp cho đàn giảm theo cấp số nhân, không chỉ cộng dồn.
Vì sao ngoài vườn khó nhận ra
Ngộ độc cấp tính để lại dấu hiệu rõ: ong chết đống trước cửa tổ, ong run rẩy bò trên mặt đất, xảy ra ngay sau một lần phun. Người nuôi ong và chủ vườn dễ liên hệ nguyên nhân. Tác động dưới ngưỡng gây chết thì khác hẳn. Ong chết ngoài đồng, rải rác, không ai thấy. Đàn suy từ từ trong vài tuần. Những dấu hiệu như ít ong ra vào, ít ô ấu trùng mới, bầu mật vơi, có thể do rất nhiều nguyên nhân khác.
Mùa khan hoa, thời tiết bất lợi, kiến, ruồi ký sinh, bệnh, ong chúa già đều có thể cho bức tranh tương tự. Vì thế, nhận định "đàn suy vì thuốc" chỉ có thể là giả thuyết cho tới khi có bằng chứng phân tích. Ngược lại, cũng không nên vội loại bỏ thuốc chỉ vì không thấy xác ong.
Các nhà nghiên cứu xử lý khó khăn này bằng cách theo dõi nhiều đàn trong thời gian dài, so đàn ở vùng có và không có thuốc, kèm phân tích dư lượng trong mật, phấn, ong và vật liệu tổ. Với cá nhân, cách thực tế là ghi chép: ngày phun ở vùng quanh, giai đoạn hoa, quan sát cửa tổ theo tuần. Ghi chép đều đặn giúp phân biệt mẫu hình trùng khớp với đợt phun và mẫu hình theo mùa.
Đọc dấu hiệu đàn suy: thuốc hay nguyên nhân khác
Bảng dưới không dùng để chẩn đoán, chỉ giúp đặt câu hỏi đúng khi một đàn ong không ngòi suy dần. Kết luận chắc chắn cần phân tích mẫu tại phòng thí nghiệm.
| Dấu hiệu | Gợi ý nghiêng về thuốc | Gợi ý nghiêng về nguyên nhân khác |
|---|---|---|
| Ít ong ra vào cửa tổ | Xảy ra sau đợt phun trong vùng, nhiều đàn quanh đó cùng bị | Trùng mùa khan hoa, mưa kéo dài, chỉ một đàn bị |
| Ít ô ấu trùng mới | Đi kèm ong dị dạng nở ra, thức ăn trong ô bất thường | Ong chúa già, đàn mới chia, mùa lạnh |
| Bầu mật vơi dần | Ong vẫn bay nhưng mang về ít, hoa vẫn còn | Hoa thật sự hết, kiến hoặc đàn khác cướp mật |
| Ong bò yếu gần cửa tổ | Run, co giật, xuất hiện sau phun | Ong già cuối đời, bệnh, ký sinh |
| Đàn suy lặp lại theo năm | Trùng lịch phun hằng năm của vùng | Trùng mùa thời tiết bất lợi |
Khi nghi ngờ thuốc, mẫu cần lấy càng sớm càng tốt và giữ lạnh, gồm ong chết hoặc yếu, mật, phấn mới mang về. Việc phân tích dư lượng cần phòng thí nghiệm có năng lực phù hợp. Ở mức nguyên lý, đây cũng là bằng chứng quan trọng nếu cần trao đổi với người dùng thuốc trong vùng.
Câu hỏi thường gặp
Tác động dưới ngưỡng gây chết là gì?
Đó là những ảnh hưởng của thuốc lên ong ở liều không đủ giết ngay, như học kém, lạc đường, ăn ít, ấu trùng phát triển kém, sức đề kháng giảm. Từng con không chết nhưng đàn yếu dần qua thời gian.
Vì sao ong bị lạc đường khi nhiễm thuốc liều thấp?
Nhiều thuốc trừ sâu tác động lên hệ thần kinh, trong đó có những vùng não phụ trách học, nhớ và định hướng. Liều thấp không làm tê liệt nhưng đủ làm nhiễu khả năng nhận biết hướng bay và mốc địa hình.
Đàn ong suy mà không thấy xác ong có thể do thuốc không?
Có thể. Với tác động dưới ngưỡng gây chết, ong chết rải rác ngoài đồng chứ không chết đống ở cửa tổ. Tuy nhiên đàn suy cũng do nhiều nguyên nhân khác, nên cần ghi chép và phân tích mẫu trước khi kết luận.
Ấu trùng ong không ngòi bị ảnh hưởng thế nào?
Các thí nghiệm trong phòng thí nghiệm ghi nhận ấu trùng ăn thức ăn có thuốc có tỷ lệ sống giảm, phát triển chậm, và ong nở ra có cánh, chân dị dạng tăng với một số hoạt chất ở liều thấp.
Thuốc ít độc với ong trưởng thành có an toàn cho đàn không?
Chưa chắc. Ví dụ nhóm điều hoà sinh trưởng côn trùng ít giết ong trưởng thành nhưng có thể làm rối quá trình phát triển của ấu trùng ong. An toàn cho ong trưởng thành chưa phải an toàn cho cả đàn.
Làm sao biết đàn ong đã nhiễm thuốc?
Cách chắc chắn là phân tích dư lượng trong mẫu ong, mật, phấn tại phòng thí nghiệm. Ghi chép lịch phun quanh vùng và quan sát cửa tổ theo tuần giúp đặt nghi vấn đúng lúc và lấy mẫu kịp thời.