Melipona là một chi ong không ngòi chỉ có ở vùng nhiệt đới châu Mỹ, gồm những loài to khoẻ, thân tròn, nhiều loài có kích thước gần bằng ong mật. Chi này nổi tiếng vì ba điều: ong thợ biết rung cơ thể để giũ phấn ra khỏi những loại hoa giữ phấn kín, ong chúa ra đời từ những lỗ tổ cùng cỡ với ong thợ, và một số loài gắn với lịch sử nuôi ong lâu đời của các dân tộc bản địa châu Mỹ.
Việt Nam không có ong Melipona trong tự nhiên. Nhưng khi đọc tài liệu quốc tế về ong không ngòi, bạn sẽ gặp chi này rất thường xuyên vì nó được nghiên cứu nhiều nhất trong tộc. Hiểu Melipona giúp đọc đúng các kết quả nghiên cứu và tránh áp máy móc sang ong không ngòi châu Á.
Melipona trông như thế nào và sống ở đâu
So với những con ong dú nhỏ quen thuộc ở Việt Nam, ong Melipona trông "chắc nịch" hơn hẳn: thân to, ngực rộng, bụng tròn, nhiều loài có lông dày, màu từ đen, nâu tới có sọc vàng. Một số loài có thân dài cỡ một centimét hoặc hơn, xếp vào hàng ong không ngòi lớn nhất. Cánh của chúng thường ngắn so với thân, khác những chi nhỏ có cánh dài vượt quá bụng.
Chi này phân bố từ Mexico qua Trung Mỹ, các đảo Caribe như Cuba, xuống khắp Nam Mỹ nhiệt đới, đa dạng nhất ở lưu vực Amazon và Brazil. Số loài được ghi nhận ở mức vài chục, và vẫn có loài mới được mô tả.
Đàn Melipona thường không lớn so với ong mật, có loài chỉ vài trăm con, có loài vài nghìn con. Tổ đặt trong hốc cây, bánh ấu trùng nằm ngang, bình mật to. Cửa tổ của nhiều loài được trang trí bằng một vành đất trộn nhựa, có những đường gân toả ra, và thường chỉ vừa một con ong đi qua, với một lính gác đứng ngay miệng. Vật liệu đất trộn nhựa mà Melipona dùng nhiều được giới nghiên cứu gọi là geopropolis, khác keo ong thuần nhựa.
Rung hoa: kỹ năng làm nên tên tuổi của Melipona
Hoa giữ phấn trong "lọ". Nhiều loài cây như cà chua, cà tím, ớt và các họ hàng của chúng có bao phấn dạng ống, phấn chỉ thoát ra qua một lỗ nhỏ ở đầu. Gió và côn trùng bò qua gần như không lấy được phấn.
Ong bám hoa và rung cơ ngực. Ong Melipona bám chặt vào hoa, tách cánh khỏi cơ bay rồi co cơ ngực với tần số cao. Rung động truyền qua hàm, qua chân vào bao phấn, giũ phấn bắn ra như rắc bột. Người ta gọi đây là thụ phấn rung.
Không phải ong không ngòi nào cũng làm được. Nhiều chi ong không ngòi nhỏ khác không có tập tính rung hoa này, nên với những cây cần rung, chúng thụ phấn kém hơn hẳn. Ong mật phương Tây cũng không rung hoa. Ong nghệ thì có, vì vậy được dùng nhiều trong nhà kính cà chua ở các nước ôn đới.
Ý nghĩa nghiên cứu. Ở Brazil và một số nước Mỹ Latinh, đã có thử nghiệm dùng Melipona thụ phấn cho cà chua, cà tím trong nhà kính như một lựa chọn bản địa thay cho ong nghệ nhập ngoại. Kết quả từng thử nghiệm phụ thuộc loài ong, giống cây và điều kiện nhà kính, nên không thể suy ra một con số chung.
Cách tạo ong chúa khác thường
Ở hầu hết các chi ong không ngòi, ong chúa được nuôi trong những lỗ tổ to hơn hẳn, ấu trùng nhận nhiều thức ăn hơn nên lớn thành chúa. Melipona thì khác: chúa, thợ và đực đều ra đời từ những lỗ tổ cùng kích thước, cùng lượng thức ăn ban đầu. Vậy điều gì quyết định một ấu trùng cái sẽ thành chúa hay thợ?
Từ giữa thế kỷ hai mươi, nhà di truyền học Brazil Warwick Kerr đề xuất rằng ở Melipona, đẳng cấp chịu ảnh hưởng của yếu tố di truyền, kết hợp với dinh dưỡng: chỉ những ấu trùng cái mang một tổ hợp gen nhất định, gặp điều kiện thức ăn đủ, mới thành chúa. Giả thuyết này giải thích vì sao tỷ lệ ong chúa sinh ra ở Melipona cao bất thường so với nhu cầu của đàn. Về sau, các nghiên cứu bổ sung vai trò của thành phần thức ăn và một số chất trong thức ăn ấu trùng, và cơ chế chính xác vẫn còn được bàn.
Hệ quả thực tế là đàn Melipona luôn sinh ra rất nhiều chúa tơ. Phần lớn bị ong thợ giết ngay sau khi chui ra, số ít được giữ lại chờ thay chúa hay chia đàn. Với nhà sinh học, đây là một mô hình hấp dẫn để nghiên cứu xung đột giữa lợi ích cá thể và lợi ích đàn: mỗi ấu trùng cái có "lợi" khi trở thành chúa, nhưng đàn chỉ cần rất ít chúa.
Một số loài Melipona hay gặp trong tài liệu
Danh sách dưới không đầy đủ, chỉ gồm những loài thường xuất hiện trong tài liệu phổ biến và nghiên cứu. Tên gọi địa phương ghi theo cách người bản xứ hay dùng.
| Loài | Vùng | Ghi chú |
|---|---|---|
| Melipona beecheii | Mexico, Trung Mỹ, Cuba | loài người Maya ở Yucatán nuôi truyền thống, tiếng Maya gọi là xunan kab |
| Melipona quadrifasciata | miền đông nam Brazil và vùng lân cận | tên địa phương mandaçaia; được dùng nhiều trong nghiên cứu hành vi và thụ phấn |
| Melipona scutellaris | vùng đông bắc Brazil | tên địa phương uruçu; được nuôi lấy mật ở nông thôn |
| Melipona subnitida | vùng khô hạn đông bắc Brazil | tên địa phương jandaíra; thích nghi với môi trường bán khô hạn |
| Melipona fasciculata | vùng Amazon phía đông | được nuôi ở một số cộng đồng vùng Amazon |
Phân loại của chi Melipona cũng có những điểm chưa ổn định. Một số loài từng được chia thành phân loài, rồi nâng lên thành loài, hoặc ngược lại. Khi đọc tài liệu cũ, bạn có thể gặp tên khác cho cùng một quần thể.
Một điểm nữa cần lưu ý là tên địa phương. Ở Brazil, cùng một tên gọi dân gian có thể được dùng cho các loài khác nhau ở hai bang, và một loài có thể có vài tên ở các vùng. Điều này giống hệt chuyện chữ ong dú, ong muỗi ở Việt Nam. Vì vậy các nghiên cứu nghiêm túc luôn ghi tên khoa học kèm nơi thu mẫu, còn tên địa phương chỉ là thông tin bổ sung để người dân và nhà khoa học hiểu nhau.
Melipona trong đời sống người châu Mỹ
Melipona là chi ong không ngòi có giá trị văn hoá lớn nhất châu Mỹ. Người Maya ở bán đảo Yucatán nuôi Melipona beecheii trong khúc gỗ rỗng từ trước khi người châu Âu tới. Ở Brazil, nhiều cộng đồng nông thôn và bản địa nuôi các loài Melipona để lấy mật dùng trong gia đình và trao đổi. Tên gọi địa phương của các loài, phần lớn bắt nguồn từ ngôn ngữ bản địa, phản ánh sự quen thuộc lâu đời đó.
Mật Melipona thường loãng hơn mật ong Apis và có vị chua nhẹ, đặc điểm chung của nhiều mật ong không ngòi. Sản lượng mỗi đàn thấp hơn hẳn đàn ong mật, nên mật ong Melipona thường được xem là sản phẩm đặc sản, dùng trong phạm vi địa phương. Các khía cạnh phân tích thành phần mật thuộc một chủ đề riêng.
Từ nửa sau thế kỷ hai mươi, ong mật phương Tây cho năng suất cao hơn đã thay thế dần ong không ngòi ở nhiều vùng. Mất rừng làm giảm hốc tổ, còn kiến thức nuôi truyền thống mai một theo thế hệ. Nhiều chương trình ở Mexico và Brazil đang cố gắng ghi lại và phục hồi tri thức nuôi Melipona, gắn với bảo tồn rừng. Một số chương trình đi theo hướng để chính người cao tuổi trong cộng đồng dạy lại cho lớp trẻ, coi đàn ong như một phần di sản sống chứ không chỉ là nguồn mật.
Melipona và ong mật lai châu Phi: cạnh tranh trên cùng vùng hoa
Một chương lịch sử thường được nhắc tới khi bàn về ong không ngòi châu Mỹ là sự lan rộng của ong mật lai châu Phi. Giữa thế kỷ hai mươi, một số đàn ong mật gốc châu Phi được đưa tới Brazil cho mục đích lai tạo, rồi các đàn thoát ra ngoài. Trong những thập kỷ sau, dòng ong mật lai này lan khắp Nam Mỹ, Trung Mỹ và lên tới miền nam nước Mỹ. Người dân quen gọi chúng là "ong sát thủ" vì tính tự vệ rất quyết liệt.
Câu hỏi đặt ra cho giới nghiên cứu là ong mật lai ảnh hưởng thế nào tới Melipona và các ong không ngòi khác. Hai nhóm cùng lấy mật và phấn của nhiều loài hoa, cùng cần hốc cây làm tổ. Một số nghiên cứu ghi nhận ong mật lai chiếm ưu thế ở những nguồn hoa nhiều mật, đẩy ong không ngòi sang hoa khác hoặc giờ khác trong ngày. Nhưng việc chứng minh cạnh tranh đó làm giảm số đàn ong không ngòi trên diện rộng là khó, vì cùng thời gian ấy rừng cũng bị chặt phá mạnh.
Bài học rút ra mang tính chung: đưa một dòng ong mới vào một vùng có thể tạo hệ quả kéo dài nhiều thập kỷ và rất khó đảo ngược. Đây là lý do giới nghiên cứu ở nhiều nước thận trọng với việc di chuyển ong giữa các vùng, kể cả ong không ngòi.
Đọc tài liệu về Melipona để hiểu ong không ngòi châu Á
Vì Melipona được nghiên cứu nhiều, kết quả của chúng hay bị dùng như "đại diện" cho mọi ong không ngòi. Khi đọc, bạn nên nhớ mấy điểm khác biệt sau so với các chi châu Á như Tetragonula, Lepidotrigona, Heterotrigona:
- Kích thước và sức bay: Melipona to, bay xa hơn nhiều loài nhỏ; số liệu phạm vi kiếm ăn không áp nguyên được.
- Rung hoa: Melipona rung hoa được; nhiều chi châu Á nhỏ thì không có tập tính này, nên kết luận về thụ phấn cà chua không chuyển sang được.
- Cách tạo chúa: chúa Melipona ra đời từ lỗ tổ thường; các chi châu Á nuôi chúa trong lỗ tổ to riêng.
- Giao tiếp: các nghiên cứu về tín hiệu âm thanh báo nguồn hoa phần nhiều làm trên Melipona; ở chi khác, cơ chế có thể khác.
- Vật liệu tổ: geopropolis đất trộn nhựa đặc trưng ở Melipona, không phải chi nào cũng dùng nhiều đất như vậy.
Nói ngắn gọn, Melipona là một "tấm gương" hữu ích để hiểu tộc ong không ngòi, nhưng là tấm gương có khúc xạ. Nghiên cứu về ong không ngòi Việt Nam cần dữ liệu từ chính các loài bản địa.
Câu hỏi thường gặp
Việt Nam có ong Melipona không?
Không. Chi Melipona chỉ có ở vùng nhiệt đới châu Mỹ. Ong không ngòi ở Việt Nam thuộc những chi khác như Tetragonula, Lepidotrigona, Lisotrigona, Heterotrigona, Homotrigona. Các loài này khác Melipona về kích thước, cách tạo chúa và hành vi.
Ong Melipona có đốt người không?
Melipona cũng là ong không ngòi, ngòi tiêu giảm nên không chích được. Khi tổ bị động, chúng có thể cắn và bám vào tóc, nhưng nhiều loài được xem là khá hiền. Mức độ tự vệ khác nhau giữa các loài và các đàn.
Thụ phấn rung là gì?
Đó là cách ong bám vào hoa và rung cơ ngực ở tần số cao để giũ phấn ra khỏi bao phấn dạng ống, chỉ có lỗ nhỏ ở đầu. Cà chua, cà tím, ớt là những cây có kiểu hoa này. Ong Melipona và ong nghệ làm được, ong mật thì không.
Vì sao Melipona sinh ra nhiều ong chúa như vậy?
Ở Melipona, chúa và thợ ra đời từ lỗ tổ cùng cỡ. Giả thuyết được nhắc nhiều cho rằng yếu tố di truyền kết hợp dinh dưỡng quyết định đẳng cấp, nên một phần đáng kể ấu trùng cái thành chúa. Phần lớn chúa thừa bị ong thợ loại bỏ ngay sau khi ra đời.
Geopropolis khác keo ong thông thường thế nào?
Keo ong thông thường chủ yếu là nhựa cây trộn sáp. Geopropolis là vật liệu có thêm đất, thường gặp ở Melipona và một số ong không ngòi khác, dùng để làm cửa tổ và bịt hốc. Thành phần cụ thể thay đổi theo loài ong và nguồn nhựa, nguồn đất quanh tổ.
Có nên nhập ong Melipona về Việt Nam nuôi không?
Không nên. Đưa một loài ngoại lai vào có thể mang theo ký sinh, cạnh tranh với ong bản địa và vi phạm quy định kiểm dịch. Melipona cũng thích nghi với hệ thực vật châu Mỹ. Ong không ngòi bản địa Việt Nam mới là đối tượng phù hợp để nghiên cứu và nuôi.